RSS
Write some words about you and your blog here
Hiển thị các bài đăng có nhãn giaoduc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn giaoduc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 28 tháng 3, 2019

Bài phát biểu của học sinh cảm ơn Nhà tài trợ Give Away chi nhánh Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh


Lễ trao tặng xe đạp cho HS nghèo
Kính thưa quý vị đại biểu, kính thưa các thầy cô giáo, thưa các bạn học sinh!
Em tên là An phương Linh, học sinh lớ 9D5 trường THCS TRần Phú. Được sự pho phép của ban tổ chức, em xin đại diện các bạn thiếu nhi có đôi lời phát biểu cảm tưởng.
Thưa quí vị đại biểu, thưa các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn.
Sông Hinh là huyện miền núi, trải qua gần 35 năm xây dựng, được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị- xã hội, các doanh nghiệp, nhà hảo tâm trong và ngoài tỉnh, đến nay, đời sống vật chất, tinh thần của người dân huyện Sông Hinh nói chung, của ccác thế hệ thiếu nhi chúng em nói riêng đã có nhiều đổi thay sâu sắc, chúng em ngày càng được quan tâm nhiều hơn, các phương diện hỗ trợ học tập ngày càng chất lượng hơn; Đáp lại sự quan tâm đó, ngoài sự thi đua trong học tập, thiếu nhi chúng em đã tham gia sôi nổi các phong trào của liên đội phát động như: Đôi bạn cùng tiến; “Hũ gạo tình thương - tiếp sức đến trường” ; “ vì bạn nghèo đón tết’’...Phong trào quyên góp sách vở, quần áo tặng bạn...
Từ những hoạt động thiết thực đó, tinh thần phấn đấu trong chúng em ngày được nhân lên, nhiều bạn trong chúng em đã vượt qua được nguy cơ bỏ học giữa chừng, nhiều bạn khác đã vươn lên trở thành học sinh khá giỏi dù phải sống trong hoàn cảnh khó khăn đặc biệt. Và nhiều người trong số đó đã trở thành những kỹ sư, những người thợ giỏi đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội. Em xin nhấn mạnh rằng, có được những kết quả đó, ngoài sự quan tâm của các cấp chính quyền, của các thầy cô ngành giáo dục, còn có một phần không nhỏ từ sự quan tâm, hỗ trợ gần xa của các tổ chức tập thể, cá nhân trong và ngoài tỉnh.
Thưa quí vị đại biểu, thưa quí thầy cô và các bạn!
 Là một huyện miền núi, xuất phát điểm thấp, phần đông là đồng bào dân tộc thiểu số, dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng so mới mặt bằng chung trong tỉnh, thiếu nhi chúng em vẫn còn nhiều khó khăn, thiệt thòi, đặc biệt là sự thiếu thốn về vật chất. Vẫn còn rất nhiều bạn phải đi bộ hàng cây số trong tiết trời nắng gắt của mùa hè, hay những cơn mưa tầm tã của mùa đông; nhiều bạn khác phải tiết kiệm tiền ăn sáng để mua thêm đồ dùng phục vụ học tập. 
Với những điều đó, em mong sẽ tiếp tục nhận được sự quan tâm của các tổ chức, xã hội, các mạnh thường quân, đồng vành với chúng em- những bạn thiếu nhi vùng đặc biệt khó khăn trong bước đường học tập.
Em cũng xin đại biện toàn thể các bạn thiếu nhi trong huyện gửi lời cám ơn chân thành và sâu sắc đến Nhà tài trợ hệ thống Give Away chi nhánh Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh đã về thăm và trao tặng nhiều suất quà có ý nghĩa trong ngày hôm nay.
Em cũng xin cám ơn Ban Giám hiệu Trường THCS Trần Phú, đặc biệt trong đó có cô Huỳnh Thị Thúy Diễm , hiệu trưởng trường THCS Trần Phú đã tích cực là là nhịp cầu nối trong chương trình này.
Một lần nữa xin cám ơn và chúc các các quí vị đại biểu, các đơn vị tài trợ, các thầy cô giáo sức khỏe, thành công. Chúng em rất mong được gặp lại quí vị trong ngày gần nhất để báo những thành tích mình đạt được.
Xin chân thành cám ơn!



Thứ Năm, 29 tháng 3, 2018

Thi môn Kinh tế- Chính trị (Đề 1)


1. Đồng chí hãy phân tích qui luật và tác dụng qui luật của giá trị trong nền sản xuất hàng hóa. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với việc phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta hiện nay.

- Phân tích nội dung qui luật:
Qui luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản trong nền sản xuất hàng hóa. Qui luật này yêu cầu sản xuất và trao đổi hàng hóa trên cơ sở giá trị của nó, tức là hao phí xã hội cần thiết.
Trong sản xuất hàng hóa thì có hao phí lao động cá biệt, phù hợp với hao phí lao động xã hội cần thiết.
Trong trao đổi phải tuân theo qui tắc ngang giá.
VD:  Công ty A phi phí hết 5 đồng/ sản phẩm và làm được 1.000 sản phẩm
Công ty B chi phí hết 7 đồng/sản phẩm và làm được 5 triệu sản phẩm
Công ty C chi phí hết 10 đồng/sản phảm và làm được 2 trăm triệu sản phẩm
Như vậy, dúng ra, Cty B dóng vai trò hao phí LĐ trung bình trong xã hội, nhưng Cty C dù chi phí có cao hơ nhưng sản phảm nhiều hơn , nên đã chi phối đáp ứng thị trường nên đã bán sản phẩm với giá 10 đồng. Khi đó:
Cty C hưởng lợi nhuận bình quân
Cty B ngoài lợi nhuận bình quân còn có lợi nhuận siêu ngạch 3 đồng/sản phảm
Cty A ngoài lợi nhuận bình quân còn có lợi nhuận siêu ngạch 5 đồng/sản phẩm
-         Trao đổi ngang giá: Hai hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động như nhau hoặc trao đổi, mua bán hàng hoá phải thực hiện với giá cả bằng giá trị
-         Lợi nhuận siêu ngạch mang tính tạm thời

SGK: Như vậy: Trong sản xuất, qui luật giá trị buộc người sản xuất  phải làm sao cho mức hao phí lao động cá biệt của mình phải phù hợp với mức hao phí lao động xã hội cần thiết, có như vậy họ mới có thể tồn tại được.
Trong trao đổi lưu thông hàng hóa, qui luật giá trị phải yêu cầu thực hiện theo nguyên tắc ngang giá. Hàng hóa được trao đổi với nhau khi cùng kết tinh một lượng lao động  như nhau, hoặc trao đổi, mua bán thì giá cả hàng hóa phải dựa trên cơ sở giá trị của nó

- Cơ chế tác động của qui luật giá trị
*Biểu hiện của qui luật giá trị
Giá trị của hàng hóa là nội dung bên trong, còn giá cả của hàng hóa là hình thức bằng tiền thông qua bên ngoài
Sự lên xuống của giá cả thị trường xoay quanh giá trị hàng hóa trở thành cơ chế tác động của qui luật giá trị, cơ chế tác động này thông qua các qui luật của thị trường
* Cơ chế vạn hành của qui luật giá trị
Khi cùng bằng cầu: Giá trị bằng giá cả hàng hóa
Cung lớn hơn cầu: Giá cả nhỏ hơn giá trị thật của hàng hóa
Khi cung nhỏ hơn cầu: Giá cả lớn hơn giá trị thật của hàng hóa


- Tác dụng của quy luật giá trị. Trong sản xuất hàng hoá, quy luật giá trị có ba tác động.
Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá.
Điều tiết sản xuất tức là điều hoà, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế. Tác dụng này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hàng hoá trên thị trường dưới sự tác động của quy luật cung cầu. Nếu ở ngành nào đó khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hoá sẽ lên cao hơn giá trị, hàng hoá bán chạy, lời cao, thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành ấy. Do đó, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên. Ngược lại, khi cung ở ngành đó vượt quá cầu, giá cả hàng hoá giảm xuống, hàng hoá bán không chạy và có thể lỗ vốn. Tình hình ấy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuất lại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng hoá cao.
Điều tiết lưu thông của quy luật giá trị cũng thông qua giá cả thị trường. Sự biến động của giá cả thị trường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao, do đó làm cho hàng hoá giữa các vùng có sự cân bằng nhất định. Như vậy, sự biến động của giá cả thị trường không những chỉ sự biến động về kinh tế, mà cũng có tác động điều tiết nền kinh tế hàng hoá.
Kích thích ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao năng suất lao động.. Các hàng hoá được sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau, do đó có mức hao phí lao động cá biệt khác nhau, nhưng trên thị trường thì các hàng hóa đều phải được trao đổi theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết. Vậy người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, sẽ thu được nhiều lời và càng thấp hơn càng lời. Điều đó kích thích những người sản xuất hàng hoá cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm v.v nhằm tăng năng suất lao động, hạ chi phí sản xuất.
Sự cạnh tranh quyết liệt càng làm cho các qui trình này diễn ra mạnh mẽ hơn. Nếu người sản xuất nào cũng làm như vậy thì cuối cùng sẽ dẫn đến toàn bộ năng suất lao động xã hội không ngừng tăng lên, chi phí sản xuất xã hội không ngừng giảm xuống.
Phân hoá người lao động thành kẻ giàu người nghèo. Những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt thấp hơn mức hao phí lao động xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa theo mức hao phí lao động xã hội cần thiết (theo giá trị) sẽ thu được nhiều lờ, giàu lớn, có thể mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mở rộng sản xuất kinh doanh, thậm chí thuê lao động và trở thành ông chủ. Ngược lại, những người sản xuất hàng hoá nào có mức hao phí lao động cá biệt lớn hơn mức hao phí lao đông xã hội cần thiết, khi bán hàng hóa sẽ rơi vào tình trạng thua lỗ, nghèo đi, thậm chí có thể phá sản, trở thành lao động làm thuê và đây cũng là một trong những nguyên nhân làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, cơ sở ra đời của chủ nghĩa tư bản.
Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực. Do đó, đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hoá phát triển, nhà nước cần có những biện pháp để phát huy tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó, đặc biệt trong điều kiện phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này đối với nước ta hiện nay

- Cần nhận thức sự tồn tại khách quan và phạm vi hoạt động rộng lớn, lâu dài của  quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở nước ta hiện nay.
Đảng ta đã khẳng định,  sản xuát hàng hóa là không đối lập với CNXH, là thu dược nền văn minh nhân loại (có trước TBCN), Cần thiết để xây dựng CNXH, và tồn tại cả khi xây dựng thành công CNXH. Điều này đã được chứng minh sau đổi mới 1986.
-         Cần vận dụng tốt cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước để phát huy vai trũ tớch cực của cơ chế thị trường và hạn chế mặt tiêu cực của nó để thúc đẩy sản xuất phát triển, đảm bảo sự công bằng xó hội.

Việc vân dụng quy luật giá trị vào những năm nền kinh tế bao cấp.
Trong thời kỳ này chúng ta đã có cách hiểu không đúng về việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng,bình đẳng xã hội,do đo việc vận dụng quy luật giá trị đã có những thiếu sót,sai lệch. Hậu quả là đã làm triệt tiêu nhưng nhân tố tích cực ,năng động của xã hội.Nền kinh tế rơI vào tình trạng trì trệ,kém phát triển.
Việc vân dụng quy luật giá trị thời gian sau đổi mới.
Khó khăn thiếu vốn; cơ sở vật chất của đất nước kém phát triển, chậm phát triển. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị lãng phí hoặc bị bỏ quên còn nhiều. Trình độ văn hoá của con người thấp kém, khả năng ứng dụng máy nước, trang thiết bị hiện đại trong phát triển sản xuất không đạt yêu cầu thực tế. Hơn nữa những người có tay nghề, kỹ thuật cao chiếm số ít trong lực lượng lao động của đất nước. Trình độ khoa học kỹ thuật và công nghệ còn yếu. Không có thành tựu nào là đáng kể trong nghiên cứu khoa học mà chỉ thừa hưởng những công nghệ đã lạc hậu ở nước tiên tiến trên thế giới chuyển giao lạ; Tuy nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường nhưng cơ cấu  kinh tế của nước ta vẫn chưa chặt chẽ, hợp lý, vẫn còn nhiều kẽ hở lớn, cơ cấu ngành nghề còn nhiều điều bất cập. Các vùng kinh tế chưa được chú ý phát triển đồng đều về các mặt. Do đó sự phát triển của nền kinh tế quốc  dân vẫn vị kìm hãm. mức tăng dân số quá nhanh. Bên cạnh dó là thế chế chính trị và quản lý của Nhà nước. Đây cũng là nhân tố quan trọng nhất có vai trò quyết định trong phát triển kinh tế của đất nước. Tuy rằng nước ta có một thể chế chính trị ổn định và tiến bộ nhưng khả năng định hướng cho sự phát triển kinh tế kém,

Từ những nhận tức trên, Đảng, NN ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa M-LN, đặc biệt là qui luật giá trị trong nền sản xuất hàng hóa. Vận dụng tác dụng tích cực và hạn chế các tác dụng tiêu cực  của quy luật giá trị. Nhà nước đã năng cao dần trình độ công tác, kế hoạch hoá kinh tế. Trung ương Đảng đã nhấn mạnh: Về cơ bản chúng ta đã nắm được nội dung, tích chất và tác dụng của quy luật giá trị đối với các thành phần kinh tế khác nhau trong hai lĩnh vực sản xuất và phân phối khác nhau về tự liệu sản xuất và tư liệu tiêu dùng và đã vận dụng nó phục vụ các nhiệm vụ chính trị và kinh tế của Đảng và Nhà nước trong từng thời kỳ; Công tác kế hoạch hoá giá cả cũng đã có tiến bộ, phạm vi ngày càng mở rộng, trình độ nghiệp vụ cũng được nâng lên một bước.
 Sau nhiều năm  thực hiện đổi mới nền kinh tế,chủ yếu nhờ các biện pháp giảI phóng sức lao động trong nước và mở cửa nền kinh tế,tân dụng nguồn lực bên ngoàI,nền kinh tế Việt Nam đã có sự biến đổi rõ rệt.Từ năm 1991 nền kinh tế  Việt Nam đã được tăng trưởng với tốc đọ khá cao,trung bình la 7,6% hàng năm.
Về cơ cấu GDP theo ngành đã có chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông-lâm-ngư nghiệp và tăng tỷ trọng của khu vực công nghiệp xây dựng và dịch vụ.
Tuy nhiên tốc độ chuyển dịch còn chậm. Tốc độ chuyển dịch cơ cấu lao động trong ngành tăng0,99% và 1,03% đối với ngành xây dựng.
Đối với năng lực cạnh tranh dịch vụ của nước ta trong những năm gần đây đã dược nâng cao,song cũng không ít những sản phẩm dịch vụ năng lực cạnh tranh còn thấp.Nhóm các sản phẩm có khả năng cạnh tranh chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp,khoáng sản chưa qua chế biến ,tỷ lệ gia tăng còn thấp.Những mặt hàng công nghiệp qua chế biến là những mặt hàng có tỷ lệ lao động cao,dựa vào lợi thế so sánh về sự khéo léo,chi phí tiền công lao động thấp.Tuy nhiên các mặt hàng này chưa có thương hiệu,chưa có kiểu dáng riêng ,chưa tạo được cơ sở nguyên liệu,phụ liệu,cơ sở công nghệ và kỹ thuật cần thiết,giá thành còn cao.Hàng thủ công mỹ nghệ có khả năng cạnh tranh tương đối tốt song chất lượng thiếu ổn định,năng lực hạn chế,chưa đáp ứng được các đơn hàng lớn.
Về vấn đề dân số,tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm nhiều.Tổng số lao động,việc làm tăng,cơ cấu lao động có nhiều thay đổi.Xoá đói giảm nghèo đạt thành tích cao.
Những giải pháp nhằm vận dụng quy luật giá trị vào n ền kinh tế nước ta trong thời gian tới
Đầu tư vào việc nghiên cứu,ứng dụng và triển khai khoa học công nghệ.
Trong tình trạng nước ta còn thiếu thốn trầm trọng khoa học kỹ thuật như hiện nay,nứơc ta cần phảI hỗ trợ nhiều hơn nữa kinh phí cho các niện nghiên cứu,các đề tàI nghiên cứu phục vụ trực tiếp cho việc chuyển đổi cơ câú kinh tế,cơ cấu sản xuất,thực hiện cơ chế đặt hàng trực tiếp giữa nhà nước,doanh nghiệp và các cơ sở nghiên cứu khoa học,tránh tình trạng bỏ phí vốn đầu tư do tách rời giữa sản phẩm nghiên cứu và thực tiễn.Tăng kinh phí đào tạo,nhất là đào tạo mới và đào tạo bổ sung đội ngũ lao động chất lượng cao.Đặc biêt chú trọng đội ngũ công nhân lành nghề ,giỏi việc,làm chủ được những công nghệ mới.
Tiếp theo phảI nâng cao trình độ văn hoá cho nguồn nhân lực,phấn đấu phổ cập phổ thông cơ sở và phổ thông trung học đối với những đối tượng và những vùng có đIều kiện nhằm tạo đIều kiện thuận lợi cho việc tiêp thu các kiến thức trong đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho người lao động.Thực hiện chính sách phân luồng học sinh sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở để tạo ra cơ cấu đào tạo hợp lý.
Đẩy mạnh công tác đào tạo chuyên môn kỹ thuật cho người lao động.Đặc biêt là đào tạo,bồi dưỡng nghề cho người lao động để tăng tỷ lệ được đào tạo lên 30% năm 2005.Cần được tiến hành thông qua biện pháp xã hội hoá đào tạo,đa dạng hoá hình thức đào tạo,bồi dưỡng với nhiều thành phần kinh tế tham gia.Trang bị các kiến thức cần thiết khác để cung câp nhân lực cho các khu công nghiêp mới ,các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoàI cũng như ngay tai địa phương.
Nông thôn cần mở rộng hình thức đào tạo nghề gắn chặt với chuyển dao công nghệ mới,chuyển dao các quy trình sản xuất,quy trình canh tác...để làm cơ sở cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp.Đào tạo chủ nhiệm hợp tác xã,huy động lực lượng tri thức trẻ về nông thôn ,vùng sâu vùng xa để tăng thêm chất lượng nguồn nhân lực làm nòng cốt cho việc thay đổi cách làm ăn tạo thế và lực mới cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Tiếp tục đổi mới,đIều chỉnh hệ thống chính sách và pháp luật về lao động và thị trường lao động theo hướng tiếp cận gần với các thông lệ và tiêu chuẩn quốc tế tạo sự bình đẳng trong pháp luật đối với mọi người lao động.
2.2.2.Lưu thông hàng hoá,tăng khả năng cạnh tranh hàng hoá của Việt Nam.
Một trong những yếu tố then chốt để nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá Việt Nam là cơ câu lạI và tăng cường năng lực cạnh tranh của khu vưc doanh nghiệp,trong đó có vai trò quan trọng của khu vực nhà nước vì khu vưc này nắm giữ phần lớn tàI sản quốc gia,nguồn lao động kỹ thuật,tàI nguyên và giữ vai trò chủ đạo trong các thành phần kinh tế.Khu cực doanh nghiệp cần xây dựng được chương trình cắt giảm chi phí sản xuất trong từng công đoạn sản xuất với từng sản phẩm.Nhà nước thực hiện chính sách khuyến khích nghiên cứu áp dụng đổi mới công nghệ,đầu tư đổi mới thiết bị sản xuất.Tạo môI trường kinh doanh lành mạnh,xây dựng khuôn khổ chính sách tạo đIều kiện cho doanh nghiệp tiến hành cơ cấu lạI sản xuất có hiệu quả,tăng khả năng cạnh tranh.Hướng dẫn thực hiện pháp lệnh giá nhằm thực hiện kiểm soát chi phí,kiểm soát độc quyền.Hạn chế độc quỳên của các doanh nghiệp ,nhà nước chỉ thực hiện trợ giá những mặt hàng thiết yếu quan trọng và một số mặt hàng nông sản xuất khẩu.
Thực hiện chính sách hỗ trợ có đIều kiện trong một khoảng thời gian nhất định để dần dần tăng năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm,mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu.Bằng cách mở rộng quan hệ với các quốc gia,các nứơc,hỗ trợ xúc tiến thương mạI ở các thị trường giàu tiềm năng.Tăng cưòng đàu tư vào hoạt động nghiên cứu thị trường,hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài.
Hoàn thiện và nâng cao hiệu lực của chính sách khuyến khích đầu tư sản xuất,đạc biêt là hàng xuất khẩu,các vùng khó khăn.Chính sách phát triển các vùng nguyên liệu để giảm chi phí sản xuất.
GiảI pháp phát triển nguồn nhân lực phảI  được đặc biệt coi trọng.Trong thời gian tới cần đầu tư cho đào tạo và đào tạo lạI, nâng cao tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 30% số lao động hiện có,trong đó chú trọng đào tạo nghề công nghệ cao.
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế quan trọng nhất của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sự ra đời và hoạt động của quy luật này gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hoá. ở đâu có sản xuất và lưu thông hàng hoá thì ở đó có sự hoạt động của quy luật giá trị. Cơ chế điều tiét sản xuất và lưu thông hàng hoá chính là sự hoạt động của quy luật giá trị sự hoạt động của quy luật giá trị được biểu hiện thong qua cơ chế giá cả. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường ta sẽ thấy được sự hoạt động của quy luật giá trị. Giá cả thị trường ta sẽ lên xuống xung quanh giá trị hàng hoá và trở thành cơ chế tác động của quy luật giá trị. Cơ chế tác động của quy luật giá trị phát sinh khi tác dụng lên thị
trường thông qua cạnh tranh, cung - cầu, sức mua của đồng tìen. Điều này cắt nghĩa tại sao khi trình bày quy luật kinh tế chi phối hoạt động của sản xuất, lưu thông hàng hoá và tác động của các quy luật kinh tế đối với sự phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam, ta chỉ trình bày quy luật giá trị, một quy luật bao quát chung được cả bản chất, các nhân tố cấu thành và cơ chế tác động của nó đối với kinh tế thị trường ở Việt Nam.



Thứ Tư, 28 tháng 3, 2018

Liên hệ môn Chue nghĩa xã hội khoa học (vấn đề con người)


Sông Hinh là huyện miền núi, có hơn 10 hộ, gần 5 nghìn khẩu, trong đó có gần 50% là người đồng bào dan tộc thiểu số. Thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước, trong nhứng năm qua, huyện Sông Hinh đã có nhiều quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, quan tâm giáo dục, y tế, củng cố hệ thống chính trị nhằm phát huy tối đa nhân tố con người, góp phần nâng cao ddwofi sống vật chất, tinh thần cho nhân dân.
Rõ nét nhất là phong trào thi đua lao động sáng tạo trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nhân dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng,chín quyền, phong trào LĐST đã thành phong trào mũi nhọn trong công tác thi đua. Tổng kết 5 2007-2012, toàn huyện đã có 1162 lượt chiến sỹ thi đua cấp cơ sở và cấp tỉnh; 1223 sáng kiến, đề tài nghiên cứu khoa học được áp dụng rộng rãi, mang lại hieuj quả xã hội to lớn và làm lợi cho tập thể hàng tỷ đồng. Bên cạnh đó, thi đua lao động sáng tạo đã tạo ra phong trào rộng lớn khuyến khích công nhân, viên chức, lao động tích cực ứng dụng vào công việc những khoa học, công nghệ tiên tiến; sử dụng có hiệu quả thời gian làm việc, tiết kiệm chi phí hành chính, tiết kiệm vật tư văn phòng phẩm, gương mẫu thực hiện tiết kiệm, chống tham ô, tham nhũng, lãng phí, nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe nhân dân, cải cách lề lối làm việc, cải cách hành chính, phương pháp vận động quần chúng…
Cùng với đó, Đảng, chính quyền huyện đã triển khai nhiều biện phápđồng bộ để phát huy nguồn lực co người như:
Về kinh tế, để tạo việc làm, khai thác nguồn nhân lực sắn có, cùng với thế mạnh của địa phương là đất đai rộng lớn, màu mỡ, khí hậu ưu đãi, huyện sông Hinh đã chú trọng đầu tư vào sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, có năng suất, chất lượng, hiệu quả, có thị trường tiêu thụ và lợi thế cạnh tranh; các vùng sản xuất chuyên canh qui mô lớn dần hình thành như chuyên canh cây hồ tiêu, cà phê, cao su, sắn, mía… Nhờ vậy giá trị sản xuất nông nghiệp từ 205 tỷ đồng (năm 2008) lên 350 tỷ đồng (năm 2012); cơ chế phối hợp ba nhà: nhà nông, nhà doanh nghiệp và nhà nước đã mang lại hiệu quả trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm, trong đó vai trò quản lý của Nhà nước ngày càng thể hiện rõ nét; Nhiều công trình thủy lợi tiếp tục được xây dựng, nâng tổng số các công trình thủy lợi lên 26, tổng năng lực tưới tiêu gần 1.378 hecta; đường giao thông thông suốt đến trung tâm xã; Ben cạnh đó, các thành phần kinh tế khác được khuyến khích mở rộng như nhà máy sắn PHOCOCEV hoạt động hiệu quả, tọa việc làm thường xuyên hàng chục công nhân, là nơi tieu thụ hơn 8.000hecta sắn của bà con nông dan trọng huyện; Nhà máy chế biến mủ cao su sắp khánh thành mở la hướng phát triển kinh tế cao, tạo việc làm cho hàng nghìn công nhân khai thác chế biến mủ… Kinh tế trang trại không ngừng mở rộng với hàng trăm trang trại thu nhập bình quân mỗi năm từ 150 đến 300 triệu đồng, tạo việc làm thường xuyên cho hàng chục lao động và việc làm thường xuyên cho hàng trăm lao động ở địa phương và nơi khác đến.
Về chính trị, mặc dù là huyện mới thành lập, dân cư sống rải rác, nhiều thành phần dân tộc thiểu số khác nhau… Nhwg đến nay hầu hết các thôn, buôn, khu phố, trường học, trạm y tế… đều đã có chi bộ. Đội ngũ cán bộ từ huyện đén cơ sở từng bowcs được đào tạo tập huấn, nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, vì vậy công tác đảng ở cơ sở ngày càng có vai trò rõ nét, chính quyền từ huyện đến cơ sở cải cách theo hướng phục vụ nhân dân; Các đề án thu hút, sử dụng trí thức trẻ phát huy hiệu quả; nhiều trí thức trẻ sau hai năm đã được bổ nhiệm giữ các chức vụ trọng trách ở địa phương như Phó chủ tịch UBND xã, Phó Bí thư đảng ủy; tiêu biểu như ở xã Sông Hinh, xã Ea Bia, Ea Bá… Qui chế dân chủ ngày càng đượ mở rộng, lãnh đạo huyện xã định kỳ hàng quí xuống địa phương tiếp xúc đối thọai, lắng nghe, kịp thời giải quyết các ý kiến, kiến nghị và nguyện vọng của nhân dan; Mặt trận các cấp tổ chức tốt các cuộc tiếp xúc giữa đại biểu quốc hội, HĐND với cử tri trước và sau các kỳ họp; Các phiên họp quốc hội, HĐND xã được Đài TT-TH huyện và các đài xã tiếp phát trực tiếp phục vụ nhân dân tiện theo dõi; Vì vậy niền tin của nhâ dân với Đảng, chính quyền ngày càng được củng cố ngay từ cơ sở.
Đối với lĩnh vực giáo dục, được sự đầu tư đến nay hệ thống trường hớp học từ huyện đến cơ sở cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân; của con em đồng bào các dân tộc không còn phải đi nhiều km để đến trường như trước; Những học sinh dân tộc thiểu số xuất sắc được tuyển chọn vào hệ thống trường dân tộc nội trú đào tạo nâng cao; đội ngũ giáo viên được đào tạo chuẩn và trên chuẩn; Các chế độ thu hút cán bộ, giáo viên đối với vùng núi, vùng đặc biệt khó khăn được giải quyết kịp thời; Duy trì xóa phổ cập tiểu hoch và THCS, hàng năm 100% trẻ em được học mẫu giáo được vào lớp 1 đúng độ tuổi. Cuộc vận động Tiếp bước cho em đến trường được các cấp các ngành và nhân dân hưởng ứng, giúp hàng chục em có nguy cơ thất học được trở lại trường; Hội khuyến học kịp thời phát hiện, động viên những học sinh, sinh viên xuất sắc, học sinh nghèo vượt khó học giỏi, tạo động lực cho toàn xã hội tiếp tục quan tâm, chăm lo công tác giáo dục, đào tạo nhân tài. Đến năm 2013, cơ bản 11/11 xã, thị trấn đã thành lập Trung tâm giáo dục cộng đồng; trong hai năm 2011-2012, Trung tâm này đã phối hợp các ban ngành đoàn thể điều tra nhu cầu học nghề thực tế của người dân, qua đó đã có hơn 7 nghìn nông dân được đào tạo, tập huấn, dạy nghề, chuyển giao khoa học kỹ thuật tiên tiến để áp dụng vào sản xuất, đời sống.
Trong công tác xã hội, các chính sách khuyến khích nhân dân làm ăn kinh tế, thoát nghèo vươn lên làm giàu được tăng cường, thông qua các hội ban ngành đoàn thể, hàng nghì hộ dân nghè được vay các nguồn vốn vay ưu đãi; Các chính sách về đất đai, vay vốn số lượng lớn được thực hiện, qua đó đã kích thích trí tuệ của các tầng lớp nhân dân làm giàu chính đáng từ tiềm năng, thế mạnh địa phương như đất đai, nguyên liệu,
Trogng lĩnh vực văn hóa, văn hóa vật thể, phi vật thể của các dân tộc thiểu số được bảo tồn, phát huy như: trang phục người ê đe, người tày, người dao đỏ… Lễ mừng tổi, lễ đâm trâu, lễ cúng bến nước của người Ê Đê, Lễ cấp sắc của người Dao… Các lễ hội như Cồng chiêng, hội thi văn hóa thể thao các dân tộc thiểu số được huyện SH tổ chức định kỳ hàng năm đã giúp cộng đồng các dân tộc tăng cường tinh thần đoàn kết; củng cố tình yêu quê hương, đất nước, yêu cuộc sống bình yên của buôn làng, từ đó nhân dân cùng với đảng chính quyền đập tan âm mưu của các thế lực thù địch gây chia rẽ, mất đoàn kết buôn làng, một lòng tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chungtay xây dựng cuocj sống mới…
 Tuy nhiên, là huyện mới thành lập, huyện mền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đòng bào dân tọc thiểu số, có điểm xuất phát thấp; quá trình công tác lãnh đạo chỉ đạo của Đảng trong vieecjphats huy nhân tố con người gặp nhiều khó khăn; Phaanflowns những người lớn tuổi trong vùng đồng bào nghe, nói không rõ tiếng kinh; mù chữ hoặc viết đọc không thạo; trình độ dân trí, trình độ văn hóa vùng đồng bào có được cải thiện trong những năm gần đây nhưng bình quân chung vẫn còn thấp; Tỷ lệ theo học cao đẳng, đại học, nhát là trong vùng thiểu số chưa nhiều; ngay cả đội ngũ cán bộ ở cơ sở vẫn còn nhiều hạn chế về trình độ, mặc dù đã được đào tạo nhưng vẫn chậm chuyển biến; Cơ sở vật chất phục vụ phát triển kinh tế, xã hội đã được chú trọng đàu tư nhưng vẫn chưa đáp ứng dược yêu cầu đổi mới; Sinh viên thất nghiệp còn nhiều, chất lượng giáo dục ở một số nơi chưa đảm bảo…
Để Nhân tố con gười được phát huy tối đa, góp phần đưa kinh tế, xã hội lên một tầm cao mới, Huyện Sông Hinh cần có kế hoạch, chương tình hành động phù hợp địa phương, xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao; xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội hiện đại, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất, đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị trường học, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên; Đặc biệt phải chú trọng tạo điều kiện cho các sinh viên đã tốt nghiệp đại học cao đẳng phát huy kiến thức trong môi trường phù hợp. thực hiện tốt chế độ tiền lươ, thưởng, tạo động lục khích lệ, đẩm bảo đủ tái sản xuất..
Tóm lại từ học thuyết Mac Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, con người đóng vai trò quan trọng trọng trong công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa. Nhờ thực hiện đúng chủ trương của Đảng về phát huy nhân tố con người, những năm gần đây huyện đã gặt hái được nhiều kết quả nổi bật. Tuy nhiên để đáp ứng yêu càu đổi mới của đát nước, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác Lê Nin, Tư tưởng hồ chí Minh, đồng thời bám sát thực tiễn cơ sở, từ đó để có những việc làm tích cực, đúng đắn, góp phần xây dựng que hương đất nước ngày pahst triển

Liên hệ môn Chủ nghĩa xã hội khoa học (Tôn Giáo)


            Sông Hinh là huyện miền núi, với gần 50% là đồng bào dân tộc thiểu số. Trong những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng và nhà nước, công tác tôn giáo trên dịa bàn huyen đã có nhiều chuyển biến tích cực, vai trò quản lý của nhà nước dần thể hiện rõ nét, đồng bào lương giáo đoàn kết, sống tốt đời đẹp đạo, hăng hái thi đua LĐXS, xây dựng đảng, chính quyền vững mạnh. Tuy nhiên bên cạnh đó, các thế lực thù địch vẫn khong từ bỏ âm mưu, lợi dụng tôn giáo lôi kéo quần chúng nhân dân, chống phá Đảng, Chính quyền địa phương.
            Hiện nay trên địa bàn huyện có 03 tôn giáo chính đó là Phật giáo, Công giáo và Tin lành; Tổng số 987 hộ, 4.131 khẩu, chiếm tỉ lệ 8,61% dân số toàn huyện. Trong đó nhiều nhất là Phật giáo: với 04 cơ sở thờ tự gồm Chùa Tuy Bình, Chùa Đồng Phú xã Đức Bình Tây; Chùa Linh Thứu thi trấn Hai Riêng và 01 Niệm Phật Đường ở xã Sơn Giang. Số lượng tín đồ: 604 hộ, 2.632 khẩu.
            Công giáo: Có 02 cơ sở thờ tự gồm: Nhà thờ Đồng Phú xã Đức Bình Tây và Nhà Nguyện thôn Vĩnh Lương xã Sơn Giang, hiện đang xây dưng mới 01 Nhà thờ Sông Hinh tại thi trấn Hai Riêng. Có 03 Ban hành giáo họ ở 03 cơ sở trên, gồm 20 người.  Số lượng tín đồ 182 hộ, 699 khẩu.
            Tin Lành: Toàn huyện có 02 điểm nhóm thuộc hệ phái CMA đã được chính quyền chấp thuận cho phép sinh hoạt là: Điểm nhóm buôn Thô, thị trấn Hai Riêng: 15 hộ, 64 khẩu và điểm nhóm buôn Zô, xã Ea Ly 23 hộ, 93 khẩu.
            Nhằm chăm lo vùng đồng bào dân tộc, vùng đặc biệt khó khăn, tự do tôn giáo, trongthowif gian qua, huyện Sông Hinh đã thực hiện nhiều chính sách quan tâm cho lo đối với vùng đồng bào có đạo. Với những việc làm cụ thể như: Cấp phép hoạt động cho các nhóm,tôn giáo đủ điều kiện theo qui định của Pháp luật;  Cấp đất, vận động nhân dân hỗ trợ xây dựng nơi thờ tự, giáo đường; Hỗ trợ kinh phí thường xuyên cho các tổ chức tôn giáo và chức sắc tôn giáo hoạt động trên địa bàn huyện; Tạo điểu kiện cho tôn giáo tổ chức các hoạt động lớn như: Lễ phục sinh, Đại lễ Phật đản, An cư Kiết hạ; Nô En… cÙng với đó là các hoạt động thăm hỏi, chúc mừng thường xuyên của lãnh đạo địa phương với đồng bào tôn giáo nhân các các ngày lễ, tết…
            Cùng với các hoạt động cụ thể đó, Đảng, Chính quyền, Mặt trận các đoàn thể ngày càng có nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa và tầm quan trọng của chính sách Tín ngưỡng, tôn giáo. Mặt trận tổ quốc Việt Nam uyện đã chủ động xây dựng chương trình phố hợp giữa Ủy ban MTTQ và Phòng nội vụ (cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo), nhằm tạo sự thoongsnhaats giữa hai đơn vị nhằm tăng cường công tác tuyên truyền , vận động nâng cao nhận thức cho cán bộ, nhân dân, chức sắc, chức việc và đồng bào ton giáo, các nhà tu hàn, tín bồ và nhân dân về các chủ trương chính sách của Đảng, nhà nước về tôn giáo; Bổ sung cán bộ phụ trách công tác toongiaos ở các thôn, buôn, vùng nhạy cảm có tôn giáo; Mở các lớp bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng vận đọng quần chúng là tín đồ tôn giáo, và công tác quản lý nhà nước về toongiaos cho cát bộ cốt cán, nhất l;à cán bộ làm công tác tôn giáo trong hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở; Các chi bộ, thôn buôn, khu phố tăng cường công tác chỉ đạo, phối hợp, quản lý nhà nước về ton giáo; ngày càng phát triển kết nạp nhiều đoàn viên, hội viên có đạo vào các tổ chức hội đoàn thể, nhiều đoàn viên, hội viên ưu tú có chức sắc, hoặc tín đồ tôn giáo được bầu giữ các chức vụ cốt cán trong giáo hội và trong các hội ban ngành thôn, buôn…
            Đáp lại sự quan tấm đó, đồng bào có đạo huyện Sông Hinh thực hiện tốt các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước. Thi đua sản xuất kin doanh giỏi, thực hành tiết kiệm chống lãng phí. Nhiều hộ đã thoát được nghèo, vươn lên trở thành hộ khá giả với những cây trồng giá trị cao như sắn, mía, cao su… Phong trào Toàn dân đoàn kết xây dựng ddwoif sống văn há mới ở khu dân cư; xây dựng gia đình văn hóa,  được nhân dân hưởng ứng; Các hoạt đồng tham gia đóng góp ủng hộ, twng thân, tương ái, tiếp xúc cử tri, hội họp thôn buôn, giữ gìn trật tự an ninh xóm làng… ngày cagf chuyển biến tích cực
            Tuy nhiên, bên cạnh đó, lợi dụng nhận thức hạn chế của một bộ phận người dân, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Một số kẻ xấu đã nén nút đến truyền đọa trái phép, lôi kéo, thành lạp những nhóm tôn giáo mà pháp luật chưa công nhận. Cụ thể, theo báo cáo của Phòng nội huyện SH, hiện nay trên địa bàn huyện Sông Hinh có 140 hô, 595 khẩu đang sinh hoạt tự phát lén lút ở 24 điểm nhà riêng trong các hộ theo đạo trên địa bàn 21 thôn, buôn, thuộc 9 xã, thị trấn; do chưa đủ điều kiện nên chưa được công nhận là điểm nhóm hợp pháp; Bên cạnh đó, hoạt động của một số kẻ lợi dụng chính sách tôn giáo vẫn còn tiềm ẩn các yếu tố bất lợi; một số đối tượng còn quan hệ móc nối với các đối tượng cầm đẩu ở TP HCM, Đăk Lăk, Gia Lai, các đối tượng FULRO đang lưu vong ở Mỹ lôi kéo đồng bào dân tộc đi theo chúng nhằm gây mất đoàn kết dân tộc, gây mất trật tự ANCT TTATXH, chống đối chính quyền. Thực tế đã diễn ra ở Ea Lâm vào thời điểm những năm 2002, 2007, lợi dụng đồng bào dân tộc thiểu số ở Ea Lâm, các đối tượng phản động đã truyền đạo lôi kép nhân dân vào các nhóm đạo, nhưng mục đích chính là tuyên truyenf chống phá Đảng, Nhà nước ta; Chúng đã kích độngnhân dân biểu tình đòi thành lập cái gọi là nhà nước Đê Ga; đập phá trụ sở UB xã, đốt phá hàng chục nhà của người kinh, đòi đuổi người kinh ra khỏi địa bàn xã. Từ đầu năm 2013 đến nay các hoạt đông truyền đạo trái phép giảm nhiều so với trước, nhưng còn một vài điểm nhóm vẫn còn diễn biến phức tạp như tranh giành tín đồ, liên tục thay đổi điểm nhóm, hệ phái.
            Để thực hiện tốt cong tác tôn giáo trên địa bàn huyện, ngoài việc quan tâm phát triển kinh tế, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân vùng có đạo, huyện Sông Hinh cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ phù hợp với địa phương như sau:
            1.  tiếp tục tăng cường, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức nói chung về tôn giáo nói riêng cho cán bọ, đảng viên, hooijvieen, chức sắc, tín đồ và toàn nhân dân; Tiếp tục phổ biến các chủ trương chính sách, pháp luật về tôn giáo cho chức sắc, chức việc và tín đồ tôn giáo ở địa phương.
            2. Tăng cường công tác QLNN về tôn giáo như:
            - Các Tổ chức tôn giáo đăng ký sinh hoạt với chính quyền năm 2014 đúng quy định;
            - Nắm bắt kịp thời các diễn biến của tôn giáo, chủ động đề xuất với chính quyền có biện pháp giải quyết kịp thời, nhất là các đơn khiếu nại, tố cáo liên quan đến tôn giáo không để dây dưa dẫn đến phức tạp
            3. Xem xét giải quyết kịp thời các nhu cầu chính đáng như:
            Hoạt động tôn giáo ngoài chương trình đăng ký, ngoài cơ sở tôn giáo, sửa chữa công trình tôn giáo, chấp thuận một số điểm nhóm đạo tin lành hệ phái CMA hoạt động theo Chỉ thị 01 của Thủ tướng Cính phủ.
            4. Thực hiện tốt các chương trình phối hợp với Mặt trận, các đoàn thể chính trị xã hội huyện về công tác tôn giáo.
            Tóm lại, từ nhận thức lý luận Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tôn giáo sẽ tồn tại với chúng ta và trở thành nhiệm vụ thường xuyên, quan trong trong thời kỳ quá độ xây dựng đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Vì vậy yêu cầu chung đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải có nhận thức đúng đắn, trên cơ sở lý luận Mác Lê Nin, tư tưởng Hò Chí Minh, các chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, đồng thời bám sát cơ sở, kịp thời nắm bắt thông tin, tình hình biến đọng của tôn giáo, từ đó có những quyết sách phù hợp, góp phần vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị ở từng địa phương, đơn vị mình. 

Thứ Năm, 22 tháng 3, 2018

Môn Triết: Quy luật về sự phù hợp trình độ sản xuất với quan hên sản xuất



Xã hội tồn tại và phát triển là nhờ sản xuất vật chất của con người. Trong dó cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất vật chất được gọi là phương thức sản xuất. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, một nền kinh tế đều có một phương thức sản xuát riêng. Phương thức sản xuất là hai mặt biện chứng của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, điều đó đã được triết học Mác-LN đúc kết bằng Qui luật về sự phù hợp trình độ sản xuất với quan hệ sản xuất. Việc vận dụng sáng tạo qui luật này đã đưa nước ta từ một nước nghèo nàn lạc hậu trở thành nước đang phát triển.

Theo Mác- Lê Nin, lực lượng sản xuất là phương thức kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra một sức sản xuất nhất định trong sản xuất vật chất, hay nói cách khác là khả năng trinh phục tự nhiên của con người để tạo ra của cải vật chất trong xã hội, mà thực chất trong đó là mối qua hệ giữa con người với tự nhiên.
Kết cấu của LLSX bao gồm ba yếu tố: TLSX, Người lao động và Khoa học  ngày nay. Trong đó tư liệu sản xuât có Tư liệu lao động (công cụ lao động, phương tiện lao động hay còn gọi là kết cấu hạ tầng như: bưu chính, viễn thông, kho tàng, bến bãi, nhà xưởng…) và đối tượng lao động (Lao động 1: có sẵn trong tự nhiên: cá, biển, rừng, mỏ than, vàng…; Lao động 2: nguồn đã qua chế biến, sơ chế). Trong tư liệu lao động, yếu tố năng động nhất, tích cực nhất là công cụ lao động; đây được cho là nguồn gốc đầu tiên và cuối cùng của Lực lượng sản xuất.
Với yếu tố người lao động. Người lao động ở đây có hai vấn đề : Số lượng và chất lượng, nhưng chủ yếu được xem xét về chất lượng. Chất lượng người lao động phụ thuộc trình độ chuyên môn, kỹ năng, kỹ sảo, sức khỏe…. Yếu tố người lao động đóng vai trò quyết định đối với lực lượng sản xuất. Người lao động tạo ra công cụ lao động; Người lao động luôn có nhu cầu cải tiến công cụ lao động để giảm sức lao động. Mắc- Ăng Ghen cho rằng, người lao động là nhân tố hàng đầu của lực lượng sản xuất
Với yếu tố khoa học, hiện nay khoa học công nghệ thâm nhập tất cả các yếu tố của lực lượng sản xuất. Vì thế, khoa học công nghệ trở thành một yếu tố của Lực lượng sản xuát ngày nay.
Về quan hệ sản xuất, thực chất là mối quan hệ giữa người với người trong hoạt động sản xuất, bao gồm: Quan hệ sở hữu (tư liệu sản xuất); Quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất và quan hệ phân phối. Trong ba yếu tố đó, quan hệ tư liệu sản xuất mang tính chất quyết định nhất. Người nào nắm giữ tư liệu sản xuất người đó làm chủ và có quyền quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh. Còn quan hệ phân phối (hợp lý, ăn chi bình đẳng…) sẽ có tác động tích cực đến người lao động, góp phần tăng năng suất lao động.
Theo Triết học Mác Lê Nin, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có môi quan hệ biện chứng với nhau và được đúc kết bằng Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
 Mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là khách quan của mọi quá trình sản xuất vật chất. Vì trong sản xuất, con người tiến hành quan hệ song trùng: Quan hệ với tự nhiên, Quan hệ với xã hội.  Mác khẳng định: Mối quan hệ trên là khách quan, ra đời tồn tại do chính bản thân của nó. Thiếu một trong hai quan hệ đó, quá trình sản xuất vật chất không thực hiện được.
 Trong một phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất bao giờ cũng giữ vai trò quyết định, hay nói cách khác, quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Mà ở đó, trình độ sản xuất là khả năng của con người tác động vào giới tự nhiên, tạo ra của cải vật chất , đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển xã hội; đồng thời nó thể hiện qua trình độ, mức độ hiện đại của công cụ lao động, trình độ tổ chức lao động xã hội, trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất, trình độ phân công lao động xã hội và kinh nghiệm, kỹ năng lao động của người lao động.
Từ những phân tích trên ta nhận thấy tính chất của lực lượng sản xuất, đó là: tính cá nhân hay tính xã hội trong việc sử dụng tư liệu để làm ra sản phẩm. Ví dụ như lao động thủ công mang tính cá nhân, còn sử dụng máy móc tự động hóa, cơ giới hóa mang tính tập thể.
Trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất như thế nào, thì đòi hỏi sản xuất phải như thế đó để đảm bảo sự phù hợp. Ở Việt nam chúng ta trước năm 1986 có nhiều trình độ lực lượng sản xuất khác nhau: lạc hậu có, cao có, thấp có. Tuy vậy chúng ta chỉ xác lập có 02 thành phần kinh tế, mà thực chất là một (kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, sở hữu chung là nhà nước). Do vậy quan hệ sản xuất và tư liệu sản xuất không phù hợp, dẫn đến năng suất đạt thấp, sản xuất không hiệu quả, không khai thác hết trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất của nước ta khi đó.
Trình độ và tính chất của lực lướng sản xuất thay đổi thì quan hệ sản xuất cũng thay đổi theo để đảm bảo sự phù hợp. Thực tế cho thấy, các nước tư bản ngày nay đã thực hiện điều chỉnh quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất bằng việc cổ phần hóa cho công nhân. Tuy nhiên bản chất của tư bản vẫn không đổi, công nhân được tham gia cổ phần không đáng kể. Còn các nước xã hội chủ nghiã, tiêu biểu như Việt Nam đã thực hiện đổi mới năm 1986, thiết lập QHSX với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần phù hợp với từng lực lượng sản xuất; đổi mới toàn diện, trọng tâm là tư duy kinh tế. QHSX, thiết lập nhiều QHSX, mỗi QHSX phù hợp với lực lượng sản xuất nhất định.
Khi lực lượng sản xuất cũ mất đi, lực lượng sản xuất mới ra đời, thì quan hệ sản xuất cũ cũng mất đi, quan hệ sản xuất mới ra đời để đảm bảo sự phù hợp. Sự phù hợp trong QHSX và LLSX là một trạng thái nhất định, biểu hiện LLSX phát triển. Đồng thời đó là sự phù hợp biện chứng, mà trong đó vẫn diễn ra yếu tố không phù hợp.
QHSX còn tác động trở lại với sự phát triển của LLSX, nó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của LLSX trong một giới hạn nhất định. Nếu QHSX lạc hậu hay tiên tiến hơn LLSX đều làm kìm hãm sự phát triển.

Qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất được thể hiện rõ nét trong quá trình xây dựng và phát triển của Việt Nam chúng ta.
Trước thời kỳ đổi mới, việc vận dụng qui luật trên ở nước ta đã mắc phải những sai lầm, lệch khu chủ trương sớm xây dựng một nền kinh tế tiên tiến trong khi lực lượng sản xuất lạc hậu, không đồng đều. Nền kinh tế quôc gia được xác lập với hai thành phần đó là kinh tế quôc doanh và kinh tế tập thể sở hữu chung của nhà nước (thực chất là một thành phần), xóa bỏ chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất một cách ồ ạt, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất tràn lan. Những lệch lạc, sai lầm, chủ quan, không đúng với qui luật về sự phù hợp  của quan hệ sản xuất với lực lượng sản xuất đã khiến chúng ta rơi vào tình trạng trì trệ, khủng khoảng, hơn 10 năm trời kinh tế hầu như không phát triển, đời sống nhân dân vô vàn khó khăn, thiếu thốn mọi bề.
Khắc phục những sai lầm đó, Đảng ta đã sáng suốt vận dụng qui luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vơi sự phát triển của lục lượng sản xuất, chuyển từ một nền kinh tế thuần nhất xã hội chủ nghĩa sang nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với trình độ sản xuất ở các ngành, các vùng khác nhau, nhằm khai thác, phát huy mọi tiềm năng, năng lực sản xuất.
Gần đây nhất, Đại hội Đảng lần thứ XI, năm 20 đã chỉ các thành phần kinh tế của nước ta bao gồm : Kinh tế nhà nước ; Kinh tế tập thể ;  Kinh tế tư nhân ; Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các hình thức sở hữu hỗn hợp. Các thành phần kinh tế hoạt động bình đẳng trước pháp luật, hợp tác cạnh tranh lành mạnh. Trong đó kinh tế nhà nước vẫn giữa vai trò chủ đạo định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo nên môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển.
Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo qui luật về sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát triển của LLSX, từ năm 1986 đến nay, nền kinh tế nước ta có bước phát triển vượt bậc, thoát khỏi tìn trạng khủng hoảng, không còn cảnh đói ăn, thiếu mặc; tinh thần tự giác, tự lực, tự cường được phát huy; các thành phần kinh tế được tạo điều kiện phát huy năng lực, phát triển nhanh,mạnh; tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhanh, thoát khỏi nước nghèo, trở thành nước đang phát triển.
Từ thực tiễn trên, chúng ta khẳng định, Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với độ phát triển của lực lượng sản xuất là qui luật cơ bản của mọi nền kinh tế.  Việc nhận thức đúng và vận dụng một cách sáng tạo qui luật này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với các nước đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư tản chủ nghĩa như ở Việt Nam chúng ta. Hiện nay, đất nước ta đang trong thời kỳ hội nhập với nền kinh tế thế giới, việc nghiên cứu, vận dụng sáng tạo qui luật trên càng có ý nghĩa sâu sắc và cần thiết; đó là cơ sở, là nền tảng chúng ta tin tưởng sẽ gặt hái được nhiều thành công trên con đường xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Thứ Sáu, 16 tháng 3, 2018

Thi môn Kinh tế- chính trị (Đề 2)


2. Đồng chí hãy trình bày bản chất và các hình thức địa tô TBCN, ý nghĩa của lý luận địa tô TBCN của C Mác trong việc vận dụng, phát triển nông nghiệp ở nước ta hiện nay?
Là một đât nước nông nghiệp, triết học Mác Lê Nin, việc vận dụng sáng tạo lý luận địa tô đã đem lại cho đất nước ta những thành quả to lớn. Điều đó dã được chứng minh bằng những thành tựu nổi bật của đất nước ta nói chung, huyện Sông Hinh nói riêng trong lĩnh vực nông nghiệp những năm sau đổi mới, đặc biệt là trong những năm gần đây. Từ một nước đói ăn, thiếu mặc thời bao cấp vươn lên trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện về vật chất cũng như tinh thần,  niềm tin của nhân dân với các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, trong lĩnh vực nói chung ở địa phương cũng như các nơi khác vẫn bộc lộ nhiều tồn tại, đòi hỏi chúng ta cần lắm vững lý luận Mác-Lê Nin, đặc biệt và vấn đề địa tô, từ đó đưa có những giải pháp thực hiện đúng đắn nhất trong quá trình công tác.

Đi sâu nghiên cứu, trước hết chúng ta tìm hiểu khái niệm địa tô. Theo C.Mác, địa tô tư bản chủ nghĩa là một phần lợi nhuận siêu ngạch ngoài lợi nhuận bình quân của tư bản kinh doanh trong nông nghiệp do công nhân nông nghiệp tạo ra mà nhà tư bản thuê đất nộp cho ông chủ
Cũng giống như địa tô phong kiến, địa tô tư bản có quyền sở hữu ruộng đất được thể hiện về mặt kinh, đồng thời là kết quả của sự bóc lột đối với người lao động. Tuy nhiên, trong địa tô phong kiến, toàn bộ sản phẩm thặng dư do nông dân tạo ra thuộc về địa chủ, còn TBCN địa tô là một phần giá trị thặng dư ngoài lợi nhuận bình quân; Nếu địa tô phong kiến phản ánh mối quan hệ giữa hai giai cấp: địa chủ và nông dân, thì Địa tô TBCN phản ánh mối quan hệ ba giai cấp: Địa chủ- Tư bản kinh doanh trong nông nghiệp và giai cấp công nhân nông nghiệp làm thuê.
Hình thức bóc lột của CNTB trong nông nghiệp thể hiện ở các địa tô: Địa tô chênh lệch, địa tô tuyệt đối và địa tô độc quyền.
Địa tô chênh lệch được tính bằng công thức: lấy giá cả sản xuất chung trừ đi giá cả sản xuất cá biệt. Khác với công nghiệp, trong nông nghiệp, giá cả hàng hóa từ nông nghiệp được quyết định bởi chi phí sản xuất trên đất xấu nhất; bởi đất tốt, trung bình ít, còn đa phần là đất xấu. TBNC chia địa tô chênh lệch  làm hai loại: Đại tô chênh lệch 1 và địa tô chênh lệch 2.
Địa tô chênh lệch 1: thu được trên đất đai có điều liện tự nhiên thuận lợi, loại địa tô này chủ đất hưởng. đất đai màu mỡ mang lại hiệu quả sản xuất cao. Vị trí thuận lợi như gần nơi tiêu thụ hay đường giao thông thuận tiện, s tiết kim đưc mt phần ln chi phí lưu thông khi bán cùng mt giá; những người phải chi phí vn tải ít hơn đương nhiên được ởng mt khoản lợi nhuận siêu ngạch so với những người phải chi phí vận ti nhiều hơn,do đó mà địa tô chênh lệch.
Địa tô chênh lệch 2: Thu được do thâm canh mà có, loại địa tô này nhà tư bản kinh doanh trong nông nghiệp hưởng.
Địa tô chênh lệch cho ta thấy, sản xuất trên đất tốt, trung bình sẽ tạo ra lợi nhuận siêu ngạch rất lớn, nhưng thực chất đó là lao động thặng dư của nông dân là ra, còn đất đai màu mỡ chỉ là điều kiện để cho năng suất cá biệt cao hơn để hình thành lợi nhuận siêu ngạch. Còn trên đất xấu, tư bản tìm mọi cách khai thác triệt để để tạo ra lợi nhuận siêu ngạch, khiến đất đai ngày càng cằn cỗi.
Địa tô tuyệt đối: là địa tô mà tất cả các nhà kinh doanh trong nông nghiệp đều phải nộp cho chủ đất dù ruộng đất đó tốt hay xấu. Trong nông nghiệp, tư bản đầu tư máy móc thiết bị ít hơn trong công nghiệp mà tăng số lượng người lao động, vì vậy giá trị thặng dư bóc lột sức lao động được nhiều. VD: có hai bản nông nghiệp bản công nghip ngang nhau,đều là 1000 chng hn; cấu tạo hữu cơ trong tư bản công nghiệp : 800c +200v +200m =1.200; trong nông nghiệp: 600c + 400 + 400v= 1.400.  Từ ví dụ trên ta thấy, giá trị thặng dư trong nông nghiệp lớn hơn công nghiệp 200 lần. Sau khi giữ cho mình một phần lợi nhuận bình quân, nhà tư bản nộp cho địa chủ phần lợi nhuận siêu ngạch gọi là địa tô tuyệt đối.
Ngoài hai loại địa tô cơ bản nêu trên, trong nông nghiệp còn có địa tô độc quyền. Đây là địa tô thu được trên những đất có điều kiện thiên nhiên đặc biệt có thể trồng được những cây quí hiếm, giá trị cao
Trong CNTB, đất xây dựng, hàm mỏ cũng mang lại lợi nhuận siêu nghạch ngoài lợi nhuận bình quân, vì vậy nhà tư bản thuê đất phải đóng địa tô cho chủ đất.

C. Mác là người đầu tiên nghiên cứu triệt để lý luận địa tô TBCN, xác định: địa tô do đâu mà có? Là do bóc lột sức lao động của người nông dân, đặc biệt là địa tô tuyệt đối.
Nghiên cứu lý luận địa tô của Mác có thể vận dụng phát triển ở nước ta như chính sách về đất đai, chính sách thuế, chính sách khuyến khích tâm canh tăng năng suất tăng năng suất lao động trong nông nghiệp.
Dưới chủ nghĩa tư bản, người chủ sở hữu ruộng đất là người được hưởng địa tô chênh lệc 1 và địa tô tuyệt đối. Đưới chủ nghĩa xã hội , lợi ích từ đất đai mang lại phải là lợi ích chung của toàn dân cho nên sau khi đảng ta giành được chính quyền, đã thực hiện chế độ sở hữu ruộng đất là công hữu để toàn dân được hưởng địa tô chênh lệch I và địa tô tuyệt đối.
Việc quy định ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý là phù hợp với quy luật tiến hóa và xu hướng phát triển của nông nghiệp hiện đại. Việc miễn thu thuế nông nghiệp hiện nay là thực hiện “khoan thư sức dân” sau những năm chiến tranh, về thực chất là trao cả địa tô chênh lệch I cho nông dân. Tuy nhiên thuế nông nghiệp là để phục vụ trở lại cho phát triển nông nghiệp cả nước và hỗ trợ những vùng khó khăn, vì vậy, nhiều người cho rằng, không nên kéo dài chính sách này. Bởi vì, lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam được bảo vệ là nhờ công lao của toàn thể nhân dân, nhưng độ màu mỡ và vị trí của các vùng đất lại không đồng đều và do vậy, nếu tiếp tục miễn thuế nông nghiệp thì những vùng có điều kiện tự nhiên thuận lợi được hưởng địa tô chênh lệch I, còn các vùng khó khăn chịu thiệt, sẽ không bảo đảm công bằng xã hội.
Đối với địa tô chênh lệc 2 là do thâm canh mà có, dưới CNTB nhà tư bàn kinh doanh trong nông nghiệp hưởng, còn dưới CNXH, Đảng nhà nước tiến hành quốc hữu hóa ruộng đất, giao ruộng đất lâu dài đến với người dân để người dân được hưởng. Đồng thời có những chính sách khuyến khích thâm canh để nông dân tăng năng suất lao động.
Cụ thể như ở huyện miền núi Sông Hinh (Phú Yên). Với đặc thù là huyện miền núi, có đông đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, trình độ dân trí thấp, nhiều tập tục thói quen, trong lao động cũng như trong cuộc sống còn lạc hậu; Đời sống phàn lớn nhân dân dựa vào sản xuất nông nghiệp, khai thác tài nguyên đất đồi, rừng rộng lớn, cụ thể là trông các cây lương lực, cây công nghiệp ngắn và dài ngày, nuôi bò, heo… Thực hiện chủ trương nhất quán của Đảng và nhà nước vè giao đất, giao rừng, huyện sông hinh đã có qui hoạch, định hướng phát triển nông nghiệp cụ thể, phù hợp với từng địa phương; song song với đó, chính quyền từ huyện đến cơ sở đã quyết tâm đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, nhất là trong công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; đội ngũ cán bộ được tăng cường, đạo tạo nâng cao chuyên môn, chính trị; không ngại xuống cơ sở điều tra, xác minh đảm bảm cấp sổ đúng đủ; hàng ngàn gấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâm nghiệp, nông nghiệp, đất ở đã dài hạn (50 năm đối với đất trồng cây lâu năm, và 20 năm đối với đất khác) được cấp tận tay cho các hộ dân; nhờ vậy bà con nông dân yên tâm sản xuất lâu dài trên mảnh đất của mình.
Để tạo điều kiện cho nhân dân phát triển diện tích cây trồng vật nuôi, ngoài việc chỉ đạo các hội đoàn thể phối hợp tốt với ngân hàng chinh sách xã hội, ngân hàng nông nghiệp phát triển nông thôn, giúp bà con nông dân tiếp cận với các nguồn vốn vay hỗ trợ sản xuất; huyện tranh thủ nhiều nguồn vốn khác nhau để kiên cố các tuyến đường giao thông  đến các trung tâm xã; mở rọng nhiều tuyến đường nội đồng với yêu cầu đảm bảo cho xe vận tải qua lại được. Nhờ vậy đến nay đường về các xã đã được kiên cố hóa, phần lớn đường giao thông nông thôn đã được bê tông hóa; Quốc lộ 29 cùng với đường ĐT 649 chạy dọc qua huyện mới hoàn thành đã mử ra hướng phát triển mới cho các xã vùng đồng bào dân tộc như xã Sông Hinh, E Ea Trol, Đức Bình Tây. Bên cạnh đó nhiều địa phương đã làm tốt công tác dân vận, huy động tiền của trong nhân dân để mở rộng các tuyến đường nội đồng. Tiêu biểu như xã Đức Bình Tây làm tuyến đường số 9 từ Suối Cầu thôn Tuy Bình giáp đường DT 649 và tuyến từ ĐT 649 đến đất ông Ba Phước với tổng số tiền 80 triệu; Tu sửa tuyến đường nội đồng từ khu vực hòn O thôn Tuy Bình và tuyến từ đường nội đồng từ Hố Chưng Bầu đi đồng cỏ thôn Đồng Phú với tổng số tiền 24 triệu đồng do nhân dân đóng góp.
Cùng với việc đầu tư xây dựng các công tronhf thủy lợi vừa như: Công trìn thuye lựi buôn Chao, công trình thủy lợi buôn Ken, xã Ea Bá cấp nước tới cho gần 300 lúa 2 vụ, Cong trình thuye lợi Tân Lập, Ea Ly, 120 hecta; Đập dâng nước Ea Tron với hàng ngàn mét kênh thủy lợi; công trình thủy lợi sau thủy ddienj Sông Ba ở buôn Quang dù, Đức Bình Tây; thủy lợi sau thủy điện Sông Hinh ở xã Sơn Giang; trạm bơm chí thán Đức Bình Đông; Hồ thủy lợi buôn Dức Ea Trol; hồ thủy lợi buôn La Bách, thị trấn Hai Riêng… Nhờ vậy từ chỗ chỉ có vài chục hecta lúa nước đến nay diện tích lúa nước của huyện Sông Hinh đã tăng lên hơn 3.000 hec ta, năng suất trung bình 45 tạ hec ta. Một sào lúa nước bằng cả hec ta lúa rẫy. Nhờ vậy đã chấm rứt cảnh thiếu ăn giáp hạt ở vùng dân tộc thiểu số.
Để có kết quả đó phải nói đến những chủ trương chính sách sáng tạo trong đất đai. Tiêu biểu như việc đổi đất rẫy lấy ruộng lúa nước ở Ea Trol. Sau khi công trình thủy lợi đập dâng Ea Trol hoàn thành, huyện Sông Hinh thực hiện chủ trương vận động nhân dân để thu hồi, hỗ trợ đền bù những diện tích đất rẫy thuận lợi ở hai bên kênh dẫn nước, sau đó đầu tư tiền của san ủi, phân lô, thành ruộng rồi chia đề cho các khẩu trong xã; đồng thời tổ chức tập huấn, hướng dẫn cách trồng lúa nước bằng cách cầm tay chỉ việc ngay tại ruộng; nhờ vậy đến nay đồng bào dân tộc thiểu số đã sản xuất thành thạo cây lúa nước; lúa gạo dư dả ăn quanh năm mà còn có để bán lấy tiền cải thiện đời sống.
Để nâng cao năng suất cây trồng, nhiều địa phương đã có những bước đi đúng hướng, phù hợp như xã Sơn Giang qui hoạch thành vùng mía có tưới tập trung với diện tích 200 hecta; Ở những diện tích này, năng suất tăng gấp rưỡi so với trồng thường (bình thường, trong bình mía ở đây đạt 70 tấn/ha; nhưng ở mô hình có tưới đã tăng lên 90 tấn/ha); nhờ vậy người trồng mía vẫn có lãi cao mặc dù giá cả xuống thấp.
Hoặc như ở xã Ea Ly, huyện Sông Hinh; Để giúp bà con dâ tộc thiểu số Ê Đê ở Buôn Zô từ bỏ những cây trồng lạc hậu giá trị thấp sang trồng mía; Chính quyền xã chú trọng đầu tư sửa chữa nâng cấp đường vào buôn; đường nội đồng; tến từng nhà tuyên truyền vận động; phối hợp với nhà máy xuống tận nơi để giải thích các chủ trương chính sách đầu tư, yeu tiên bảo hiểm giá, đầu tư phân bón, giống, kỹ thuật… nhờ vậu đồng bào ở đây đã mạnh dạn trồng mía; từ chỗ chỉ vài chục hec ta đén nay hầu hất các hộ dân trong buôn đã chuyển sang trồng mía; khí hậu thuận lợi, chăm sóc đúng kỹ thuật nên năng suất mía ở đay đền cao hơn các nơi khác hơn chục tấn mỗi hec ta; nhiều hộ đã xây được nhà kiên cố, mua được xe máy, ti vi, máy cày… nhờ mía.
Chính sách hỗ trợ nông dân còn thể hiện ở việc đảm bảo đầu ra cho sản phẩm. Với huyện Sông Hinh, đặc biệt là đối với các cây trồng chủ lực là sắn, mía, cà phê, cao su. Đến năm 2012, điệt cích cao su tuàn huyện đã nâng lên đến 2.800ha trong đó 1000ha đã khai thác mủ; diện tích mía 4000; tăng 400 ha so với năm trước; diện tích săn hơn 8.000 ha, tăng 2.000 ha so với năm trước; Thực tế đã khẳng định, những năm qua, đây là các cây trồng có ý nghĩa lớn giúp người dân sông hinh xóa đói, giảm nghèo và vươn lên làm giàu chính đáng cho bà con nông dân. Xác định tầm quan trọng đó; ngoài các chính sách nêu trên; huyện phối hợp tốt với các công ty cổ phần mía đường Tuy Hòa, nhà máy sắn POCOCEV; công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Ea Bá để thành lập các ban điều hành tổ chức thu mua sản phẩm một cách hài hòa đôi bên cùng có lợi. Đáng chú ý huyện đã tạo điều kiện cho công ty Giám đốc Công ty TNHH Xây dựng và thương mại Phúc Nguyên, Xây dựng nhà máy chế biến mủ cao su công suất 5000 tấn mủ khô, với cong suất này đảm bảo tiêu thụ hết mủ cho 6.000 hec ta cao su theo qui hoạch của huyện.
Chính sách đất đai ổn định, lâu dài đã tạo tâm lý cho bà con nhân dân huyện Sông Hinh yên tâm đầu tư sản xuất thâm canh nâng cao năng suất cây trồng; ý thức bảo vệ đất, được nâng lên; các loại phân hóa học dần được hạn chế, thay vào đó là các loại phân vi sinh, phân chuồng; nhưng nơi đất đai cằn cỗi, đồi đá được tận dụng trồng rừng. Đất trồng sắn nhiều năm được cải tạo bằng các cây khác như trồng dưa, cây họ đậu… Ngoài các cây công ngiệp ngắn và dài ngày đã khẳng định được vị thế; một số cây công nghiệp dài ngày khác đang được triển khai thử nghiệm như mac ca, ca cao… Trang trại trồng trọt kết hợp chăn nuôi ngày càng mở rộng, như mô hình như trồng cao su nuôi bò, trồng mía, diện tích hàng chục hecta, giải quyết lao động thường xuyên từ 5 đến 10 người và hàng trăm lao động thời vụ; lợi nhuận hàng năm từ 200 đến 300 triệu đồng. Tính toàn huyện đến nay có khoảng 200 trang trại. Điều đó càng cho thấy những chính sách đúng đắn của Đảng, nhà nước về đất đai đối với người nông dân.
Tuy nhiên vấn đề nông nghiệp trên địa bàn huyện còn bộ lộ nhiều hạn chế như: Trình độ nhận thức của đồng bào thiểu số thấp nên rất e ngại với việc chuyển đổi, thâm canh nâng cao hiệu quả sản xuất; Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chạm so với yêu cầu đề ra; tình trang tranh chấp đất đai, nhất là đất ông, đất bà còn diễn ra nhiều nơi…
Giải pháp trong thời gian tới là cần tăng cường công tác tuyên truyền vận động, chú trọng tuyên truyền giáo dục trực tiếp bằng tiếng đồng bào dan tộc, bằng những việc làm mang tình “cầm tay chỉ việc”, đối với đồng bào dân tộc thiểu số; Tìm hiểu giải quyết tận gốc vấn đề tranh cấp đát đai ngay từ cơ sở; đẩy mạnh công tác giao đất, giao rừng, cấp gấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ dân; Xây dựng các mô hình chuyên canh, thâm canh để bà con học tập; Khuyến khcis nông dân dồn điền đổi thửa để tạo thuận lợi cho áp dụng cơ giới hóa vào sản xuất…
Tóm lại, nhờ việc vận dụng sáng tạo triết học Mac- LN, nhất là lý luận dịa tô, Đảng, nhà nước ta đã có nhiều chủ trương chính sách đúng đắn trong lĩnh vực nông nghiệp như giao đất lâu dài để người dân chủ động sản xuất, những chính sách khuyến khích thâm canh tăng năng xuất cây trồng, chính sách miễn giảm thuế… . Thành quả mang lại đã được chứng minh ngày càng rõ nét từ thực tế. Tuy nhiên, trong quá trình đó vãn còn bộc lộ nhiều hạn chế như đất đai còn manh mún, nhỏ lẻ trở ngại lớn đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn; gắn với thực tiễn để có tư tưởng, nhận thức đúng; từ đó là nhân tố tích cực để tuyen truyền, vận động, góp phần đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, NN vào cuộc sống và mang lại hiệu quả cao nhất.
Liên hệ bản thân

Đề thi môn Triết: Câu 1: Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức; Ý nghĩa phương pháp luận và vận dụng tại địa phương đơn vị?


Chủ nghĩa duy vật Mac xít, đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật trong lịch sử nhân loại đã giải quyết một cách đúng đắn và khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức trên quan điểm thực tiễn.
Chủ nghĩa duy vật Mac xít hình thành và phát triển từ cuối những năm 40 do C.Mác và Ph Ăng ghen thực hiện trên cơ sở nghiên cứu tư tưởng của nhân loại trên nhiều lĩnh vực từ thời cổ đại cho đến xã hội đương thời cùng với các hoạt động thực tiễn. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, các ngành khoa học tự nhiên phát triển mạnh; đặc biệt là vật lý học, do thiếu vững chắc về phương pháp luận triết học đã rơi vào tình trạng khủng khoảng thế giới quan, bị các nhà triết học duy tâm lợi dụng, đả phá tư tưởng duy vật.
Tổng kết những thành tựu khoa học tự nhiên cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, đồng thời trên cơ sở kế thừa tư tưởng của C. Mác và Ph. Ăngghen, Lê Nin đã dưa ra định nghĩa kinh điển, hoàn chỉnh nhất cho đến ngày nay về vật chất: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Bên cạnh đó, chủ nghĩa duy vật Mac xít đã có những quan điểm khoa học về ý thức. Khác với các quan điểm đối lập như: với duy tâm cho là ý thức do thần thánh, thượng đế gán vào con người, ý thức là ý thức chủ quan của con người; Thì chủ nghĩa duy vật  Mác dựa trên những thành tựu  nghiên cứu các ngành khoa học sinh lý học thần kinh, khẳng định ý thức có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội. Nguồn cốc tự nhiên bao gồm bộ óc con người và thế giới vật chất; bộ óc người ví như cơ quan, bộ máy sản sinh ra ý thức, được coi là bộ máy hoàn chỉnh tinh vi nhất; thế giới vật chất đóng vai trò là nội dung của ý thức. Còn các yếu tố xã hội như Lao động  và ngôn ngữ là phương tiện truyền tải ý thức. Nguồn gốc tự nhien là yếu tố cần còn xã hội là yếu tố đủ để hình thành lên ý thức con người, cùng với bản chất phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người một cách năng động sáng tạo đã làm cho ý  thức con người không ngừng phát triển. Điều này đã được chứng minh thực tế ở một số trường hợp người rừng. Khi một đứa bé bị lực giữa rừng từ nhỏ, cách lý với xã hội loài người khi trưởng thành đã không tạo ra được ý thức người mà chỉ có bản năng sống của động vật.
Từ những khái niệm trên, chủ nghĩa duy vật Mac xít đã giải quyết đúng đắn và khoa học về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức. Theo đó vật chất luôn quyết định ý thức và có tác động trở lại, có thể là tác động tích cực, cũng có thể là tác động tiêu cực.
Theo triết học Mac- Lê Nin, suy cho cùng vật chất quyết định ý thức, đó là tiền đề, là nguồn  nguồn gốc cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của ý thức. Điều đó đã đức chứng minh từ các yếu tố hình thành ý thức như: Não người (một dạng cụ thể của vật chất), Lao động (hoạt động vật chất), Thế giới vật chất và ngôn ngữ (coi như vỏ vật chất). Bên cạnh đó  Những điều kiện khách quan của vật chất đã làm nảy sinh ý thức. VD Ở việt nam có điều kiện tự nhiên nhiều sống suối, độ đốc lớn, làm nảy sinh ý thức xây dựng nhà máy thủy điện.  Điều kiện vật chất như thế nào thì ý thức như thế đó; vật chất quyết định nội dung ý thức. VD cs 100 triệu thì có ý thức làm gì với 100 triệu ấy. Dựa vào thu nhaaph của gia đình mới tính toán đầu tư con cái học hành…
Vật chất vận động phát triển thì ý thức do nó sinh ra cũng vận động  và biến đổi theo. Nói cách khác vật chất quyết định khuynh hướng vận động của ý thức. Ý thức  phản ánh vật chất, muốn phản ánh đúng đủ thì phải vận động biến đổi theo. Thực tế chứng minh Việt nam trước, trong và sau đổi mới. Trong giai đoạn 1975 đến 1886, chúng ta vận hành cơ chế tập trung bao cấp(đây được coi là điều kiện vật chất, điều kiện xã hội), điều đó làm tư tưởng nhân dân  cũng nhỏ lẻ, manh mún, rời rạc, bảo thủ, mang tính nói chung, không chỉ riêng một bộ phận (cấp dưới ỷ lại cấp trên, lao dông tập thể không nhiệt tình… ) Sau đối mới, chuyển kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN, bản thân mỗi con người năng động nhạy bén lên, cạnh tranh; chuyển từ tính bảo thủ trì trệ, tụ động sang nhạy bén năng động, dám nghĩ, dám làm để bảo đảm ự tồn tạo và phát triển. Đối với Đảng, trước đổi mới đề cao tập thể thì sau đổi mới vai trò của cá nhân, thủ trưởng được đề cao gắn trách nhiệm… 
Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song ý thức lại có tính độc lập, tương đối, có sự tác động trở lại đối với vật chất. Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm, cản trở sự phát triển ở một mức độ nhất định đối với sự biến đổi của vật chất. Khi ý thức nắm bắt được bản chất của sự vật hiện tượng, qui luật vận động, quá trình tồn tại… từ đó hình thành lên mục tiêu đúng, phương pháp đúng, tạo ra giải pháp tác động cùng chiều, nhờ vậy có tác động thúc đẩy vật chất đó phát triển mạnh mẽ hơn. Ví dụ như chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước trong thời kỳ đổi mới đất nước sau năm 1986 về sản xuất nông nghiệp (đó là ý thức); Trước đó Đảng ta đã nhận định, nước ta có điểm xuất phát thấp, lạc hậu, phần lớn là nông nghiệm; để đi lên công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần xuất phát từ nông nghiệp. Thực tế đã chứng minh, sau một thời gian ngắn chủ trương đã đi vào cuộc sống, đất nước từ chỗ thiếu ăn hiện nay đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới. Đó là nhờ nhận thức đúng, chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta. Ngược lại, khi ý thức không hiểu , không nắm bắt được qui luật vận động thì sẽ tác động ngược chiều lại, kìm hãm phá hủy điều kiện vật chất. Cụ thể như, sau giải phóng năm 1975, chúng ta đã có tư tưởng chủ quan là: đã thắng được những đế quốc mạnh nhất thế giới lúc bấy giờ thì việc gì chúng ta cũng làm được, điều đó đã nảy sinh tư tưởng nóng vội xây dựng xã hội chủ nghĩa mà chưa xây dựng nền tảng cơ sở vật chất, phát triển kinh tế hai thành phần(quóc doanh và tập thể, mà thực chất hai thành phần đó là một). Trên mười năm xây dựng, không những kinh tế, xã hội không phát triển mà thậm chí còn rơi vào khủng hoảng, lạm phát cao, nhân dân luôn trong tình trạng đói ăn, thiếu mặc.
Ý thức kìm hãm trong giới hạn nhất định, vượt qua đó, vật chất sẽ quyết định ý thức; mặc dù trong thời kỳ bao cấp trước năm 1986, trong đội ngũ cán bộ Đảng, nhà nước ta nhiều người đã có tư tưởng đổi mới trong sản xuất hàng hóa, tư tưởng đối mới trong cơ chế chính sách để tạo sự bức phá phát triển kinh tế, xã hội, điều đó cho thấy, suy cho cùng vật chất luôn tác động đến ý thức.
Ý thức đúng đắn khoa học sẽ là tác động thúc đẩy; tính khoa học càng cao thì ý thức càng tác động mạnh. Bên cạnh đó triết học Mác- Lê Nin còn cho rằng, ý thức còn thụ thuộc khả năng vận dụng tri thức của con người; phụ thuộc sự phát triển của chế độ xã hội, phụ thuộc trình độ phát triển kinh tế; phụ thuộc giai cấp thống trị. Nhà Bác học No Ben chế tạo ra nguyên tử; nhưng nếu phụ thuộc giai cấp thống trị tiến bộ sẽ là tác động tích cực cho xã hội như sản xuất điện hạt nhân; nhưng nếu ngược lại, giai cấp thống trị phản động làm bom chiến tranh giết người và hủy hoại môi trường.    
            Từ giải quyết đúng đắn, khoa học mối liên hệ giữa vật chất và ý thức trên quan điểm thực tiễn chúng ta rút ta quan điểm khách quan của phương pháp luận khoa học và cách mạng sau đây:
Một là: Vật chất quyết định cả về nguồn gốc, nội dung và khuynh hướng vận động phát triển của ý thức, do đó trong nhận thức và hoạt động thực tiễn , chúng ta phải xuất phát từ thực tế khách quan (xuất phát từ điều kiện, hoàn cảnh, khả năng của chúng ta) để đưa ra ý thức. Ngoài xuất phát từ điều kiện , hoàn cảnh cần phải tôn trọng các qui luật khách quan.
Ba là: Ý thức do vật chất sinh ra và quyết định, song ý thức lại có tính độc lập tương đối, có sự tác động trở lại đối với vật chất. Do đó trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn cần phải phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, phát huy vai trò nhân tố con người để tác động, cải tạo hiện thực khách quan.
Bốn là: Để nâng cao tính năng động chủ quan cần phải nâng cao trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ chính trị; Phát huy lòng nhiệt tình cách mạng và bản sắc văn hóa dân tộc.

Từ những quan điểm khách quan về nhận thức đó, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Sông Hinh đã vận dụng sáng tạo vào việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, an ninh quốc phòng, đặc biệt là trong việc thực hiện Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới.
Chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chủ chương lớn của Đảng và Nhà nước ta, mục tiêu là huy động mọi nguồn lực nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần nhân dân lên một tầm cao mới. Thực hiện chương trình này, huyện Sông hinh có hai xã được chọn làm thí điểm. Trên cơ sở khách quan, Đảng, chính quyền huyện nhà đã bám sát vào thực tiễn, nắm chắc điều kiện hoàn cảnh kinh tế, văn hóa, caon người trình độ khả năng của nhân dân ở các xã trọng huyện. Từ đó chọn xã Sơn Giang và xã Ea Ly để chỉ đạo điểm. Xã sơn Giang phần lớn là người kinh, đời sống nhân dân tuy còn thấp nhưng ổn định, nhân dân cần cù chịu khó,  tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng nhà nước; trong sản xuất có diện tiichs trồng lúa nước, có diện tích tròng sắn, mía… phù hợp là đơn vị tiêu biểu để cọn làm điểm xây dựng noongthoonmowis đối với xã người kinh. Còn xã Ea Ly phù hợp để chọn làm điểm đối với các xã dân tộc vì ở đây người dân tộc thiểu số chiếm phần lớn và nhiều dan tộc anh em cùng sinh sống. Tuy điều kiện cơ sở vật chất còn thiếu thốn nhưng xã Ea Ly có tiềm nang đất đai màu mỡ, thích hợp phát triển các cây công nghiệp ngán và dài ngày như sắn, mía, cà phê, cao su, mắc ca.
Để thực hienj có hiệu quả, chính quyền huyện, xã đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền để cán bộ và nhân dân hiểu, tạo sự đồng thuận trong quá trình thực hiện. Đặc biệt là coi trọng công tác đào tạo nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn nghiệp vụ; trình đọ chính trị… Nhiều trí thức trẻ được đào tạo chính qui đưa về các địa phương này bổ nhiệm vào các nhiệm vụ phù hợp; phần lớn cán bộ địa phương đã và đang được đào tạo đại học; phần lớn đã có trình độ sơ cấp, trung cấp chính trị, nhiều cán bộ chủ chốt đã có trình độ cao cấp chính trị… Nhờ vậy nhan tố con người trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo ở các địa phương này đã ddowcj phát huy tối đa, thông qua những việc làm nang nổ, đầu tàu, gương mẫu, linh hoạt, sáng tạo được đông đảo quần chúng nhân dân đồng tình noi theo.  Nhờ vậy, mới qua hai năm triển khai, đến nay các địa phương này đã có 9/19 tiêu chí nông thôn mới được thực hiện hoàn thành. Có những chỉ tiêu khó như môi trường đã được nhân dân ủng hộ và thực hiện. VD như ở xã Sơn Giang, Đảng ủy xã đã nhân rộng mô hình dân vận khéo Chi hội phụ nữ thôn Nam Giang “5 không ba sạch”; tham gia mô hình này, chị em phụ nữ thôn Nam Giang quét dọn vệ sinhđịnh kỳ đường làng ngõ xóm, thu gom rác thải về nơi qui định. Đến nay hầu hết các thôn trong xã đã có tổ tình nguyện thu gom rác thải; ý thức bảo vệ môi trường đã được đông đảo nhân dân hưởng ứng. Nhờ vậy chỉ tiêu về môi trường- ddowcj coi là một trong những chỉ tiêu khó thực hiện, được xã Sơn giang thực hiện thành công trongnawm 2012. Về kinh tế đã có chuyển biến rõ nét, nhiều diện tích thâm canh, có tưới nước đã cho năng suất gấp rưỡi so với trước kia; các cây công nghiệp dài ngày như cà phê cao su đã khẳng định vị thế, trở thành cây trồng chủ lực xóa đói giảm nghèo vươn lên làm giàu cho các hộ dân. Hộ đói không còn, hộ nghèo ngày càng giảm, nhiều người đã xây được nhà cao tầng, mua xe ô tô du lịch bằng chính bàn tay, sức lực ngay trên quê hương mình. Bên cạnh đó nhiều nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc được bảo tồn phát huy như văn hóa cồng chiêng của người Ê đê ở buôn Zô, Lễ cấp sắc của người Dao ở thôn Tân Bình, xã Ea Ly…
Tại hội nghị sơ kết hai năm triển khai thực hiện chương trình quốc gia xây dựng nông thôn mới ở huyện Sông Hinh nhiều đại biểu đã phát biểu khẳng định có được kết quả ban đầu đáng phấn khở như vậy là nhờ có sự bám sát cơ sở, nắm rõ được điều kiện, hoàn cảnh thực tế ở từng địa phương từ đó đưa ra những chủ trương định hướng phù hợp, đáp ứng yêu cầu, mong mỏi và được nha dân nhiệt tình ủng hộ. Bên cạnh đó là đội ngũ cán bộ có trình độ, nhiệt tình, tâm huyết, sáng tạo và luôn đi đầu trong từng cử chỉ, việc làm đã tạo được niềm tin yêu của nhân dân.
Tóm lại với nèn tảng tư tưởng triết học Mac L Nin, đất nước ta đã dành nhiều thang lợi to lớn trong công cuộc giải phóng dân tộc, giải phóng con người, gần đây nhất là 30 năm đổi mới đất nước, với các chương trình lớn như Chương trình quoocsgia xây dựng nông thôn mới. Điều đó một lần nữa chúng ta thêm tự hào về con đường cách mạng mà Đảng, Bác hồ đã chọn. Chủ nghĩa duy vật Mac xít vẫn là cơ sở, là hạt nhân của thế giới quan khoa học hiện đại.