RSS
Write some words about you and your blog here
Hiển thị các bài đăng có nhãn tulieu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tulieu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 19 tháng 2, 2016

KHÁI QUÁT CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN DU LỊCH GÓP PHẦN XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ

                                                                                     Ksor Hét
    Chủ tịch UBND xã EaBar huyện Sông Hinh

I. Khái quát đặc điểm tự nhiên, đặc điểm lao động:
1. Đặc điểm tự nhiên:
Xã Eabar là xã miền núi, thuộc vùng lõm chương trình 134-135 giai đoạn II (còn buôn Thứ và buôn Quen nằm chương trình 134 – 135), nằm cách trung tâm huyện Sông Hinh khoảng 20km về hướng Tây, có giới cận vị trí như sau: Phía Bắc giáp: Xã EaLâm; Phía Đông giáp: Xã EaBá; Phía Nam giáp: Thị trấn Hai Riêng; Phía Tây giáp: EaLy.
- Diện tích tự nhiên trên toàn xã khoảng 10.059ha, trong đó: Đất nông nghiệp : 7.237,8 ha; Đất lâm nghiệp: 2.250,8 ha; Đất phi nông nghiệp : 2.051,52 ha.
- Dân số trên toàn xã hiện có: (theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở ngày 01 tháng 4 năm 2009) 1.199 hộ, 4.809 khẩu, trong đó dân tộc thiểu số chiếm khoảng 52% với các thành phần dân tộc như Ê đê, Tày, Nùng, Mường, Dao, Sán diều, Thổ và Cao Lan.
- Địa hình xã Eabar Chủ yếu là đồi núi, chia cắt bởi nhiều sông, suối tuy nhiên độ dốc thấp thuận lợi cho giao thông đi lại giữa các vùng lân cận. Mang khí hậu vùng Đông Trường Sơn nóng ẩm, có hai mùa rõ rệt. Tuy nhiên cũng ảnh hưởng bởi khí hậu Tây Nguyên nên lượng mưa hàng năm tương đối cao.
2. Đặc điểm lao động:
Eabar là xã có số dân tập trung khá đông so với 11 xã thị trấn của huyện Sông Hinh  chính vì vậy đây là tiềm lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế xã hội của địa phương trong tương lai.
- Thuận Lợi:
+ Có lực lượng lao động trẻ, có năng lực được qua đào tạo hiện nay số lượng học sinh của xã học tại các trường Cao đẳng, Đại học là khá lớn ( tập trung ở 3 thôn thuộc nông trường Cà phê Eabá). Đây sẽ là lực lượng trí thức phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
+ Trừ các buôn đồng bào Ê đê , phần lớn  nhân dân tại xã đều xuất phát từ các địa phương khó khăn di cư vào đây nên tinh thần, trách nhiệm lao động rất cao đây cũng là một trong những yếu thúc đẩy nền kinh tế của địa phương phát triển trong tương lai gần.
+ Là xã có địa hình chia cắt bởi nhiều sông suối nên mang trong mình tiềm năng phát triển du lịch sinh thái.
- Khó khăn:
Chưa được quan tâm đầu tư đúng mức việc phát triển tiềm năng của địa phương như tiềm năng du lịch.
II. Tình hình phát triển kinh tế - Văn hóa – Xã hội ở địa phương:       
1. Về kinh tế:
Kinh tế năm sau tăng hơn năm trước. Ngành kinh tế phát triển nhất của địa phương là kinh tế nông nghiệp (cả cây nông nghiệp và công nghiệp). Phần lớn nông dân đã biết áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất và đã đạt năng suất cao góp phần xóa đói giảm nghèo tại địa phương. Tổng diện tích gieo trồng  khoảng 3.106 ha.Trong đó, lúa nước khoảng 285 ha, năng suất bình quân 5 tấn/ha; Bắp lai khoảng 400 ha, năng suất 6 tấn/ha, Sắn mì khoảng 789 ha, năng suất bình quân 17 tấn/ha. Cây hoa màu các loại khoảng 818 ha. Trên địa bàn xã có khoảng 1.000ha cà phê ( công ty TNHH MTV cà phê Ea bá khoảng 500ha và của nông dân 500ha) và diện tích cao su tiểu điền khoảng 963,6ha, hiện đã đưa vào khai thác 100ha. Hầu hết các diện tích cây trồng đều cho năng suất, hiệu quả khá cao. Hình thành vùng chuyên canh cây công nghiệp với quy mô rộng là cà phê và cao su; trên 85% diện tích lúa, đậu, bắp, mía, mì có sử dụng giống mới; 85% các khâu công việc trong nông nghiệp đã được cơ giới hóa. Trên địa bàn ngày càng có nhiều mô hình trang trại hoạt động hiệu quả, cần được nhân rộng như mô hình trồng cây công nghiệp (cà phê, cao su) gắn với chăn nuôi bò, nuôi gà, nuôi cá.    
Trên địa bàn còn có các công ty như Công ty TNHH MTV cà phê Ea Bá, công ty TNHH đá Granic Sông Hinh và đang triển khai dự án Vườn thực nghiệm Cao su chất lượng cao trên địa bàn, bước đầu đang phát triển một số điểm tiểu thủ công nghiệp hoạt động có hiệu quả như cơ khí, gò hàn, sửa chữa máy, ... 
Hoạt động thương mại - dịch vụ ngày càng phát triển, toàn xã có 37 điểm buôn bán vừa và nhỏ.
Thu nhập bình quân đầu người cuối năm 2009 là 7,1 triệu đồng/người/năm, đạt 101% so với chỉ tiêu cả nhiệm kỳ đề ra.
2. Văn hóa – Xã hội:         
2.1. Công tác giáo dục: Trường, lớp học đã cơ bản được kiên cố hóa; chất lượng dạy và học ngày một nâng lên; tỷ lệ học sinh ra lớp hàng năm tăng. Đã thực hiện rà soát chất lượng đội ngũ giáo viên, học sinh và có biện pháp để nâng cao chất lượng dạy và học (Giáo viên đạt chuẩn bậc Mầm non 86%, bậc tiểu học 93,5% , bậc  THCS và THPT 100%); Tỷ lệ tốt nghiệp THPT năm học 2009 -  2010 trên 90% được xếp trong top 10 trường PTTH có tỷ lệ tót nghiệp cao nhất toàn tỉnh. Xã đã đạt chuẩn quốc gia về phổ cập THCS.
2.2. Công tác Y tế - KHHGĐ và chăm sóc trẻ em: Hoạt động của Trạm Y tế tạo được chuyển biến tích cực, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được trang bị cơ bản đầy đủ. Trạm đã có bác sĩ, đang phấn đấu để xã đạt chuẩn quốc gia về y tế. Các chương trình phòng, chống dịch bệnh, công tác bảo vệ bà mẹ, trẻ em và dân số kế hoạch hóa gia đình đạt được kết quả tốt, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 1,2‰; giảm tỷ lệ trẻ dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng từ 34,5% xuống còn 30,4%.
2.3. Hoạt động văn hóa thông tin – TDTT:
Xây dựng mới 05 nhà văn hóa cộng đồng; toàn xã hiện có 7/8 thôn buôn có nhà sinh hoạt cộng đồng. Phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” đang phát triển và dần đi vào chiều sâu. Đã có 03 thôn buôn đạt danh hiệu thôn buôn tiên tiến 03 năm liền, 01 thôn đạt danh hiệu tiên tiến 02 năm liền, 01 thôn đạt danh hiệu tiên tiến năm thứ nhất và 450/1.199 gia đình văn hóa.
Hoạt động thể dục - thể thao có phát triển. Tổ chức thành công các kỳ đại hội TDTT cấp xã và nhiều hoạt động TDTT khác; tham gia đầy đủ các hoạt động do huyện tổ chức, tạo được phong trào rèn luyện thân thể khá thường xuyên và rộng khắp địa bàn.
3. Quốc phòng – an ninh:
3.1. Về quốc phòng: Hàng năm Đảng uỷ đều ban hành Nghị quyết lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự quốc phòng trên địa bàn. Công tác xây dựng và bổ sung lực lượng dân quân tự vệ luôn được chú trọng, chiếm 1,03% so với số dân. Công tác giao quân hàng năm đạt 100% chỉ tiêu.
3.2. Về an ninh trật tự: Chính trị được giữ vững, công tác đảm bảo trật tự an toàn xã hội được tăng cường, phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh tổ quốc được triển khai thực hiện thường xuyên. Cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động đấu tranh, ngăn chặn có hiệu quả các loại tội phạm, các hoạt động lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo của thế lực thù địch; triển khai có hiệu quả các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm trên địa bàn.
4. Công tác xây dựng chính quyền:
HĐND xã hoạt động cơ bản có hiệu quả, các đại biểu đã thể hiện được vai trò trách nhiệm của mình trước HĐND và cử tri, tăng cường công tác giám sát trên một số lĩnh vực và tham gia giải quyết các ý kiến kiến nghị của cử tri, phát huy vai trò là đại diện cho cử tri; thực hiện vai trò giám sát đối với việc thực thi pháp luật và quyền chất vấn của các đại biểu HĐND.
UBND xã và Ban nhân dân các thôn buôn được củng cố, kiện toàn. Công tác đào tạo cán bộ, công chức được chú trọng cả về số lượng và chất lượng. Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý được trẻ hoá, chất lượng được nâng lên. Công tác cải cách hành chính có tiến bộ; lề lối làm việc hợp lý, khoa học hơn, giảm bớt phiền hà cho dân, cải thiện mối quan hệ của cán bộ, công chức với nhân dân, nhất là từ khi áp dụng thực hiện chỉ thị 07 của BTV Huyện ủy, chỉ thị 05 của Thủ tướng Chính Phủ, thực hiện cuộc vận động “học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.
III. Tiềm năng phát triển:
Tuy nhiên, nhìn chung đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, chủ yếu sản xuất nông nghiệp nên thu nhập không ổn định ( do ảnh hưởng thời tiết, giá cả lên xuống thất thường,…). Tỷ lệ hộ nghèo trên toàn xã còn rất cao ( hơn 39%).
Kinh tế của địa phương phát triển nhưng cơ cấu kinh tế không đồng đều. Nông nghiệp chiếm tỷ trọng chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ có nhưng không đáng kể. Và một vấn đề đáng lưu ý là du lịch không chưa nằm trong cơ cấu phát triển kinh tế ở xã Eabar trong thời gian qua. Nhưng trên thực tế Eabar có rất nhiều tiềm năng để phát triển loại hình kinh tế này.
EaBar là vùng đất mang khí hậu vùng Đông Trường Sơn nóng ẩm nhưng lại ảnh hưởng khí hậu Tây nguyên. Nhiệt độ thấp hơn nhiều so với toàn tỉnh, nhiệt độ: cao nhất từ 34 – 35oC; thấp nhất từ 15 – 17oC; nhiệt độ trung bình cả năm: 26,40oC nên khí hậu mát mẻ, trong lành phù hợp cho du lịch sinh thái.
Trên địa bàn xã có đường ĐT645 chạy qua nối liền với tỉnh Đắc lắc rất thuận lợi cho việc đi lại cho bà con. Phía Tây có thủy điện K rông Năng, phía Tây Bắc có thủy điện Sông Ba Hạ và còn có Viện cao su đang đầu tư vườn cao su tiểu điền trên địa bàn xã.
Với thực tế trên Eabar cần thiết được quy hoạch, đầu tư phát triển du lịch sinh thái để phát triển kinh tế góp phần xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Các địa điểm xét thấy đủ tiêu chuẩn để đầu tư quy hoạch phát triển du lịch sinh thái tại xã Eabar:
1. Suối Ea Enao Brui, địa chỉ buôn Chung – Eabar.
2. Suối Ea LZông, địa chỉ buôn Chung – Eabar.
Là địa phương có 9 thành phần dân tộc sinh sống cùng nhau nên bản sắc văn hóa rất phong phú, đặc sắc, nhất là bản sắc văn hóa của đồng bào dân tộc bản địa Ê đê. Phát triển du lịch còn tạo điều kiện để giới thiệu với du khách về vùng đất, phong tục, tập quán phong phú của đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương Eabar. Chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số, người làm nghề nông  nên con người Eabar rất thật thà, chân chất, thân thiện và mến khách.
Kinh tế - văn hóa – xã hội ở Eabar trong những năm qua có phát triển nhưng chưa ổn định, cơ cấu kinh tế không đồng đều. Tỷ lệ hộ nghèo còn rất cao (hơn 39%), nên phát triển du lịch là điều cần thiết để góp phần xóa đói giảm nghèo và cân bằng cơ cấu kinh tế theo xu thế chung hiện nay. Khi du lịch phát triển, nhiều loại hình dịch vụ khác cũng sẽ phát triển theo như dịch vụ ẩm thực, giải trí, lực lượng lao động làm công tác du lịch, … sẽ tạo nguồn thu nhập cho người dân địa phương.
Để phát triển loại hình du lịch sinh thái nhất thiết phái có 3 nhân tố đó là tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất và nhân lực.
Nhân tố thứ nhất: Tài nguyên du lịch là một trong những tiềm năng ở địa phương Eabar nhưng chưa được khai thác. Vì vậy muốn phát triển du lịch sinh thái thì chỉ cần khai thác những tiềm năng đã có sẵn. Nhưng cần lưu ý ở đây là phải khai thác có kế hoạch, khai thác phục vụ có hiệu quả cho việc phát triển du lịch sinh thái. Tránh trường hợp khai thác tràn lan làm cạn kiệt tài nguyên mà không đem lại hiệu quả gì.
Nhân tố thứ hai: Cơ sở vật chất: Eabar là một xã miền núi nằm trong chương trình 134 – 135 của chính phủ giai đoạn I nên được xây dựng về điện, đường, trường, trạm cơ bản đáp ứng được sinh hoạt của nhân dân. Nhưng để phát triển du lịch sinh thái thì cần đầu tư xây dựng nhiều hơn nữa.
Trước hết các điểm có khả năng phát triển du lịch của địa phương còn ở trạng thái hoang sơ, chưa được đầu tư tu tạo. Việc cần thiết nhất là phải đầu tư trực tiếp vào các điểm phát triển du lịch để phục vụ khách tham quan, làm đường giao thông từ điểm phát triển du lịch nối liền với khu dân cư, với đường ĐT645. Đây là một trong những điều kiện để thu hút khách du lịch đến tham quan tại địa phương. Đầu tư xây dựng các điểm ăn uống, giải trí,… để phục vụ khác tham quan.
Nhân tố cần được đầu tư cũng không kém phần quan trọng cho việc phát triển du lịch sinh thái, đó là đào tạo nhân sự. Muốn phát triển du lịch cần có đội ngũ nhân lực làm công tác du lịch chuyên nghiệp để phục vụ khách du lịch. Và nên lấy người địa phương để đào tạo, góp phần tạo công ăn việc làm cho dân bản địa, góp phần xóa đói giảm nghèo trên vùng đất Eabar.

Trên đây là báo cáo tham luận về công tác phát triển du lịch góp phần xóa đói giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số xã Eabar.

Thứ Sáu, 12 tháng 2, 2016

SÔNG HINH NÊN MỞ HƯỚNG PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH DU LỊCH CỘNG ĐỒNG

Mạnh Minh Tâm
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Phú Yên

Du lịch cộng đồng đã xuất hiện ở nước ta từ năm 1997. Trải qua hơn một thập kỷ hình thành và phát triển, du lịch cộng đồng đã đem lại nhiều lợi ích về mặt kinh  tế và cải thiện đời sống cho người dân địa phương trên mọi miền đất nước. Bắt đầu từ nhu cầu của khách du lịch nước ngoài muốn tự khám phá và tìm hiểu văn hóa ở Việt Nam, các công ty lữ hành đã tìm hiểu và xây dựng nên những điểm du lịch cộng đồng. Hiện nay các công ty du lịch có rất nhiều lựa chọn cho tour du lịch như Sín Chỉa, hồ Ba Bể, vườn Quốc gia Bến En, Sapa,  Huế…Du khách sẽ tìm thấy những giây phút yên bình với phong cảnh thiên nhiên hoang dã ở đó.
Homestay là một thuật ngữ trong du lịch cộng đồng để chỉ hình thức khách du lịch cư trú tại nhà của người dân địa phương. Du lịch homestay, thường là những khách nước ngoài đã quá quen thuộc với cảnh sống phồn hoa đô thị nên họ muốn  tìm về những nơi nguyên sơ hoang dã để khám phá những nét mới lạ; trước là được hòa mình, thả hồn trong không khí trong lành tĩnh mịch của rừng núi, đồng quê - những nét đẹp còn giữ vẻ hoang sơ, kỳ thú của thiên nhiên và nhất là được tìm hiểu những nét đặc sắc văn hóa bản địa (lễ hội, phong tục tập quán, ý ăn nết ở của người dân địa phương…).
Tất nhiên, ở đây là những nơi hầu như chưa hoặc không có đủ điều kiện để xây dựng khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng quán ăn phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Do đó du khách rất thích thú được sống với khung cảnh: đi bộ, leo núi “lội sông, băng rừng”, ở nhà sàn Chăm H’roi, nhà rông của đồng bào Bana, nhà dài của Êđê; lạ miệng được thưởng thức những bữa cơm gạo đỏ, thịt trâu gác bếp, thịt bò nấu cay mặn, canh chua gà lá dang, uống rượu cần nếp quạ… thong dong đây đó, thư thả tâm hồn, vui thú điền dã mà không vướng bận những lo toan suy tính hối hả, bon chen thường nhật …Đây chính là điểm hẹn, là mục đích của loại hình du lịch homestay.
 Sông Hinh với lợi thế là một huyện miền núi, có diện tích đất đai rộng lớn (88.460 ha), chiếm gần 30% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh; địa hình bằng phẳng như một thảo nguyên lộng gió, phong cảnh thiên nhiên sông suối, núi non kỳ vĩ; có trên 17 dân  tộc anh em sinh sống, trong đó các dân tộc thiểu số chiếm gần 1/2 dân số. Sông Hinh bốn phía đều là núi, đỉnh cao nhất là Chư Ninh (1.035m). Có nhiều cảnh đẹp thơ mộng với con sông lớn nhất là Sông Ba chảy dọc theo ranh giới phía bắc với huyện Sơn Hòa, có hồ thủy điện và nhiều nhánh sông rẻ, các khe suối chảy ra từ những đỉnh núi cao. Ngoài ra, có hồ Trung tâm ở thị trấn Hai Riêng, Bầu Hà Lầm ở xã Ealâm, hồ Tân Lập, hồ Cảnh Tây, Hồ Eađin ở xã Eabar, thác H’Ly ở buôn Kít... Và đặc biệt là vùng tam giác: Thủy điện Sông Hinh - thủy điện Sông Ba Hạ - Thủy điện Krông Năng sẽ góp phần hình thành vùng du lịch sinh thái đa dạng. Sông Hinh còn là nơi có nhiều động vật quý hiếm, từ xa xưa đã đi vào ca dao thành ngữ “Cọp núi lá, cá Sông hinh”…là những điểm nhấn ấn tượng, không phải nơi đâu cũng có, là tiềm năng, lợi thế cho phát triển loại hình du lịch cộng đồng homestay.
Song điều quý nhất là Sông Hinh có trên 17 dân tộc anh em, tạo nên bản sắc văn hóa phong phú, đa sắc, đa hình và độc đáo; trong đó dân tộc Êđê chiếm 1/3 dân số, được mệnh danh là xứ sở của trường ca của vùng đất miền tây Phú Yên. Qua khảo sát dân tộc học, tác giả “Các dân tộc thiểu số Phú Yên” (Nguyễn Quốc Lộc – Vũ Thị Việt) đã từng nhận xét: đáng chú ý là trường ca ở đây còn “nguyên chất” hơn cả. Với một không gian phong phú về bản sắc văn hóa, những màu sắc của từng dân tộc là tài sản chung của các dân tộc anh em. Đó cũng là những sản phẩm du lịch hấp dẫn, mới lạ mà khách du lịch homestay rất thích khám phá và tìm hiểu.
Điều hấp dẫn đối với khách du lịch homesay là đến với đồng bào của từng buôn làng; từ sáng sớm tinh mơ, cho đến đêm khuya thanh vắng du khách có thể nghe đủ mọi thứ âm thanh, âm nhạc như tiếng dìu sáo réo rắc lưng trời, tiếng đàn tơ rưng vang vọng từ suối nước, tiếng mõ đuổi chim bằng sức gió từ các chòi rẫy, tiếng véo von của các loại sáo dọc, sáo ngang của những chàng trai dùng để nói lên tiếng lòng mình với các sơn nữ; tiếng đàn tính của dân tộc Tày, đàn Tơ rưng, đàn Klôngpút ngân vang của dân tộc Êđê. Và nhất là du khách được thưởng thức các dòng cồng chiêng Aráp của dân tộc Êđê, trống đôi, cồng ba, chinh năm của dân tộc Bana- chăm Hroi. Đến đây, du khách tha hồ tìm hiểu những tiếng cồng chiêng chứa đựng nhiều màu sắc âm điệu: Chiêng báo tin vui, chiêng của dân làng săn đuổi thú, được mùa; chiêng trong lễ thổi tai mừng trẻ sơ sinh đầy cữ, chiêng trong lễ cầu hôn nhắc nhở đôi trai gái yêu thương bền chặt, tiếng cồng chiêng xua đuổi thú dữ khi phá rẫy nương; cồng chiêng thúc giục trai tráng dân làng xung trận khi có chiến tranh và cổ vũ mọi người chiến đấu quên mình vì sự tồn vong của cộng đồng dân tộc…
Thật vui thú, được tự do, tự khám phá, trải nghiệm những điều mới lạ “cùng ăn, cùng ở, cùng làm”; được tìm hiểu các lễ hội truyền thống, lối sống, tập quán của từng dân tộc; được xem đan gùi, đẽo tượng và nhất trực tiếp xem đồng bào dệt thổ cẩm. Nhiều khách nước ngoài họ rất mê và trầm trồ thán phục về tài nghệ dệt thổ cẩm của chị em phụ nữ Êđê, Bana, Chăm H’roi; bởi họ vừa là người thợ dệt, vừa là thợ may và là thợ thêu; họ vừa là thợ thợ thủ công đồng thời cũng là một “nghệ sỹ”. Đến với đồng bào các dân tộc Sông Hinh du khách sẽ tìm thấy  chất nghệ sỹ độc đáo của dân làng miền sơn cước. Nhìn những tấm khố, chiếc váy bền và đẹp là sản phẩm khéo tay, kiên trì của những người phụ nữ; những chiếc gùi trau chuốt xinh xắn là sản phẩm tỷ mỉ của các cụ già; những sản phẩm kỳ thú vườn tượng nhà mồ, sản phẩm cung ná mà tác giả chỉ là những người dân không qua trường lớp…
 Sau một ngày được tiếp xúc với những con người thân thiện, chất phát, cởi mở của người dân địa phương, được hòa mình vào phong cảnh hữu tình của buôn làng. Đêm về được say lòng bên ché rượu cần cùng với những làn điệu hát khan, trường, ca hát then; được thưởng thức tiếng kèn môi, đàn tính và được nắm tay múa xoan với các sơn nữ vui vầy bên ánh lửa trại bập bùng, rộn rã tiếng trống đôi, cồng ba, chiêng năm, chiêng Aráp…
Toàn bộ đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số cùng với phong cảnh sông núi trùng điệp của Sông Hinh chắc chắn sẽ lôi cuốn khách du lịch. Đặc biệt là rất phù hợp với loại hình du lịch hoestay.

Để xây dựng và phát triển loại hình du lịch này, Sông Hinh cần hỗ trợ xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng quy mô nhỏ tại các xã thực hiện dự án du lịch cộng đồng, ưu tiên phát triển du lịch gắn với y tế, giáo dục, giao thông, nước sạch… nhằm  phát triển du lịch cộng đồng gắn với xóa đói giảm nghèo. Hỗ trợ, thúc đẩy quản lý bền vững các nguồn lực tự nhiên và văn hóa. Triển khai chương trình đào tạo, hướng dẫn cán bộ quản lý và người dân tổ chức các hoạt động dịch vụ du lịch phù hợp với điều kiện tự nhiên, văn hóa truyền thống, trong đó chú trọng hơn cả là bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc./. 

Thứ Tư, 10 tháng 2, 2016

PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ DU LỊCH HƯỚNG ĐI MỚI CHO DU LỊCH SÔNG HINH

                                                Cao Hồng Nguyên
                                                 Cán bộ Ban Quản lý Dự án
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịchPhú Yên   

Du lịch, ngành công nghiệp không khói, đã được đánh giá là có một vai trò rất quan trọng đối với phát triển kinh tế, xã hội, không chỉ đối với các quốc gia phát triển mà ngay cả ở những quốc gia đang và kém phát triển. Thành công của ngành du lịch ở nhiều quốc gia đã đóng góp tích cực vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của họ. Nằm trong chiến lược phát triển vùng du lịch Nam trung bộ và cả nước, hướng tới kỷ niệm 400 năm Phú Yên và Năm du lịch quốc gia 2011 do Phú Yên đăng cai tổ chức, tỉnh Phú Yên nói chung và huyện Sông Hinh nói riêng đang từng bước thúc đẩy du lịch phát triển, phấn đấu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế chủ chốt.
Sông Hinh là huyện miền núi nằm phía Tây - Nam tỉnh Phú Yên với trung tâm huyện là thị trấn Hai Riêng, cách Thành Phố Tuy Hòa 70 km. Là khu vực chịu ảnh hưởng nhiều của các hoạt động kiến tạo, vì vậy địa hình, địa mạo tương đối phức tạp. Chúng ta không thể không ngạc nhiên trước vẻ đẹp hoang sơ và huyền bí của núi, rừng, sông, suối mà tạo hóa đã ban tặng; rượu cần sẽ làm bạn ngây ngất trong hương đất, hương trời. Chúng ta cũng sẽ hiểu sâu hơn bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng các dân tộc huyện Sông Hinh khi đến với văn hóa người Êđê, Bana và thưởng thức những sản phẩm tinh tế như thổ cẩm được làm ra từ những bàn tay tài hoa, điêu luyện của đồng bào trong huyện.
Nơi đây có nhiều dân tộc sinh sống: Kinh, Êđê, Bana, Chăm hà roi, Tày, Nùng, Dao, Sán dìu, Mường… trong đó đồng bào các dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ 46%. Mỗi tộc người đều có một bản sắc văn hoá riêng, do vậy nền văn hoá hết sức đa dạng và phong phú, đặc biệt là các di sản văn hoá của các đồng bào dân tộc Êđê, Bana là tài sản tinh thần vô giá của quốc gia và thế giới.
Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm, biến cố của lịch sử, Sông Hinh vẫn giữ gìn được kho tàng di sản văn hoá vô cùng phong phú, quí giá như: Miễu ở thôn Tuy Bình, Mộ Ông ở thôn An Hoà, xã Đức Bình Tây, nơi phát hiện tiền cổ và phế tích Tháp Chàm thuộc thôn Hà Giang, xã Sơn Giang, Mộ Chum và các công cụ sản xuất của người Nguyên thuỷ ở khu vực Suối Mây. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược Sông Hinh là địa bàn quan trọng về quân sự, nhiều địa danh chiến tích đã đi vào lịch sử như Đồn Tuy Bình, lô cốt nguỵ quyền thuộc xã Đức Bình Tây. Ngoài ra Sông Hinh còn có những nghề truyền thống của người đồng bào như dệt thổ cẩm, đan lát…Chính sự đa dạng, phong phú về tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyên nhân văn đã cho Sông Hinh những tiềm năng to lớn để phát triển nhiều loại hình du lịch khác nhau như: du lịch sinh thái, du lịch kết hợp thể thao, leo núi, du lịch văn hoá, du lịch ẩm thực…Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại thì những kết quả mà du lịch Sông Hinh đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng hiện có. Một trong những thách thức lớn nhất của du lịch Sông hinh hiện nay đó là dịch vụ du lịch chưa thể đáp ứng được tiêu chuẩn và yêu cầu của thời hội nhập. Chính vì thế tác giả chọn vấn đề dịch vụ du lịch để viết bài tham luận này.
Qua phân tích trên đây có thể thấy rõ những tiềm năng du lịch to lớn của huyện Sông Hinh. Sông Hinh có cơ hội phát triển ngành du lịch vốn thừa hưởng những thế mạnh về văn hóa truyền thống về cả khía cạnh đa dạng lẫn độc đáo. Nếu như có thể khai thác được những thế mạnh ấy, Sông Hinh có thể góp phần làm phong phú hơn nữa lựa chọn của khách du lịch khi đến Sông Hinh nói riêng và Phú Yên nói chung. Ngoài ra đó cũng là một cách để Sông Hinh giữ gìn, bảo tồn và phát huy những bản sắc văn hóa mang đậm hồn dân tộc và âm hưởng của núi rừng. Ngoài những yếu tố thương hiệu điểm đến thì chất lượng dịch vụ du lịch góp phần thể hiện diện mạo du lịch của địa phương, thế nhưng dịch vụ du lịch ở Sông Hinh nói riêng và Phú Yên nói chung vẫn còn rất hạn chế. Để xây dựng được niềm tin cho khách du lịch thì việc phát triển dịch vụ du lịch là nhiệm vụ tối cần thiết.
Là một huyện miền núi của tỉnh Phú Yên, Sông Hinh phải đối mặt với nhiều thách thức, xuất phát điểm thấp, trình độ phát triển kinh tế xã hội, trình độ công nghệ vẫn còn hạn chế. Chính vì vậy, Sông Hinh phải có những định hướng để phát huy những điểm mạnh của mình để du lịch và dịch vụ du lịch có những bước phát triển mới cùng với xu hướng phát triển chung của tỉnh Phú Yên và cả nước. Xu hướng chung trong việc phát triển du lịch Sông Hinh có thể được khái quát như sau:
- Kết hợp du lịch sinh thái, du lịch văn hóa, du lịch ẩm thực:
Du lịch Sông Hinh với những tiềm năng hiện có về tài nguyên thiên nhiên cũng như tài nguyên nhân văn rất phù hợp với để phát triển loại hình du lịch này. Đây là yếu tố chủ đạo của du lịch Sông Hinh. Kết hợp với những loại hình du lịch đó, chúng ta có thể cung cấp cho khách du lịch những dịch vụ kèm theo như nhà hàng chuyên chế biến những món ăn của đồng bào, nhà nghỉ xây dựng theo kiểu nhà dài của đồng bào Êđê hoặc là cung cấp những sản phẩm truyền thống do đồng bào làm ra.
Du lịch lễ hội cũng là một trong những hướng đi trong tương lai của du lịch Sông Hinh. Hàng loạt các lễ hội của người đồng bào như: Lễ hội Mùa xuân của người Êđê hay Lễ hội mừng lúa mới, lễ cúng bến nước, lễ kết nghĩa anh, em, lễ hiến sinh, lễ cúng hòn đá bếp, lễ cầu mưa…Đây là nét đặc trưng và là điểm nhấn của du lịch Sông Hinh. Có thể nói với xu thế phát triển du lịch hiện nay, Sông Hinh đang đứng trước thời cơ và thách thức mới. Một trong những thách thức đầu tiên đó chính là xu hướng sử dụng dịch vụ du lịch chất lượng cao của một số bộ phận Du khách mà du lịch Sông Hinh hiện nay chưa thể đáp ứng được.
Trên cơ sở tiềm năng hiện có, những định hướng phát triển, những cơ hội và thách thức đối với du lịch Sông Hinh, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:
- Xây dựng và quảng bá các chương trình du lịch theo chủ đề cụ thể, đặc trưng của Sông Hinh:
Một thương hiệu thành công cần có yếu tố đặc trưng nhất định và gây được ấn tượng sâu sắc. Muốn xây dựng được thương hiệu du lịch đặc trưng trước tiên cần xây dựng được chương trình du lịch đặc trưng, cụ thể. Vì vậy du lịch Sông Hinh cần có những chương trình  độc đáo, mang màu sắc của địa phương trên cơ sở khai thác những điểm nhấn trong tiềm năng du lịch. Tác giả xin đề xuất phương án xây dựng chương trình du lịch cụ thể như sau:
Chủ đề: Sông Hinh âm vang miền Sơn cước
Các lễ hội bắt đầu từ cuối tháng 12 năm cũ đến hết tháng 3 dương lịch-năm mới. Trong lễ hội các buôn người ta mời các buôn làng gần xa đến dự, cứ lần lượt diễn ra trong suốt bảy ngày đêm. Do các già làng chủ trì trong các buôn làng của mình. Tuy nhiên, để những lễ hội này có sức hút và hấp dẫn đối với du khách thì cần đầu tư tổ chức những lễ hội này trên qui mô lớn chứ không chỉ là những hoạt động tự phát của những vùng đồng bào diễn ra lễ hội.
- Chương trình được bắt đầu với phần lễ: theo phong tục của đồng bào các dân tộc, hàng năm vào dịp kết thúc một mùa rẫy là đồng bào các dân tộc nơi đây cùng tổ chức lễ hội đón năm mới (gọi là mùa ăn năm, uống tháng). Sau lễ ăn cơm mới, các buôn làng tổ chức lễ cúng bến nước, để cầu mong mưa thuận, gió hòa, nguồn nước dồi dào, trong lành, mọi người khỏe mạnh. Lễ hiến sinh (giết trâu), lễ kết nghĩa anh em, lễ cưới, lễ trưởng thành, lễ cúng sức khỏe cho mọi thành viên trong cộng đồng, lễ cúng hòn đá bếp, lễ cúng hòn đá cổng buôn làng, lễ cúng cầu mưa, cúng thần gió, cầu một năm mưa thuận gió hòa, làm ăn phát đạt, nhà nhà no ấm, hạnh phúc.
- Sau đó sẽ đến phần hội: Không khí lễ hội khắp các buôn làng  rộn ràng, náo nhiệt, tiếng chiêng, tiếng trống, vang khắp núi rừng. Người Êđê còn tổ chức các sinh hoạt văn hóa như kể khan (sử thi), thổi kèn đing năm, đing Ktút, nhảy A ráp…tại đây ta có thể mời du khách cùng hòa mình vào không khi lễ hội cùng lắng nghe những tiếng chiêng, nhảy điệu Arap cùng đồng bào và sẽ lồng ghép chương trình ẩm thực đặc biệt giới thiệu các đặc sản của đồng bào Êđê đến với du khách.
Với nhiều thắng cảnh đẹp, hoang sơ và huyền bí. Ta có thể làm nổi bật những nét độc đáo của những thắng cảnh này thông qua một số hoạt động sau:
- Tổ chức cho Du khách đến với suối Mây để được đắm mình trong dòng nước mát trong, thả hồn mình vào những cánh rừng đại ngàn, được câu cá khi đến với hồ thủy điện Sông Hinh và thưởng thức những đặc sắc của Sông Hinh khi về lại hồ trung tâm.
- Quảng bá các chương trình du lịch và hình ảnh du lịch Sông Hinh
+ Công tác tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến thương hiệu du lịch trong thị trường du lịch là một khâu đặc biệt quan trọng và hết sức cần thiết. Đối với ngành du lịch Sông Hinh, công tác này chưa được chú trọng, nguồn vốn đầu tư vẫn còn khá hạn hẹp, các chương trình xúc tiến và quảng bá du lịch cũng như các dịch vụ du lịch vẫn chỉ manh mún và chưa có tính đồng bộ.
+ Xác định mục tiêu quảng bá: đó là thu hút khách du lịch đến Sông Hinh, thu hút vốn đầu tư, từ đó tăng thu nhập nâng cao chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật và chất lượng dịch vụ du lịch.
+ Đối tượng nhắm đến: khách du lịch nội địa, quốc tế, các hãng lữ hành cùng các nhà đầu tư.
+ Nội dung quảng bá: các chương trình du lịch, các chủ đề du lịch, tài nguyên du lịch, tiềm năng phát triển du lịch, dịch vụ du lịch.
- Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu hiện tại và tương lai:
Cũng như mọi ngành kinh tế khác, vấn đề con người, trình độ chuyên môn nghiệp vụ là vấn đề hết sức quan trọng có tính then chốt trong việc phát triển du lịch. Có thể nói rằng số lượng và trình độ của đội ngũ nhân viên phục vụ trong lĩnh vực dịch vụ du lịch ở Sông Hinh vẫn chưa tương xứng với yêu cầu phát triển vào thời điểm này. Để đáp ứng được yêu cầu, cần phải có một chương trình đào tạo toàn diện với những kế hoạch cụ thể. Có những chính sách phù hợp nhằm thu hút nguồn nhân lực trẻ, đặc biệt là sinh viên của Sông Hinh về làm việc tại quê nhà. Ngoài ra cũng cần áp dụng những chính sách này để thu hút nguồn nhân lực ở địa phương khác về làm việc. Nhưng điều hết sức quan trọng là Sông Hinh phải biết sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ hiện có đó là đồng bào các dân tộc.
- Tăng cường xúc tiến đầu tư trong lĩnh vực dịch vụ du lịch:
Thường xuyên tổ chức hội nghị, hội thảo nhằm giới thiệu các chính sách, quảng bá tiềm năng và cơ hội đầu tư.
- Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch:
Trong thời gian qua, du lịch Sông Hinh chỉ phát triển trên cơ sở khai thác những tài nguyên sẵn có để xây dựng thành các điểm tham quan, ngắm cảnh mà lại quên mất một điều rằng, trong một chuyến du lịch nhu cầu của khách du lịch không chỉ tham quan hay ngắm cảnh, mà họ còn đòi hỏi nhiều hơn thế. Không có một vị khách du lịch nào lại đến và muốn lưu trú lại lâu tại một điểm không có một dịch vụ ăn uống, hay vui chơi giải trí nào cho ra hồn, không có một hướng dẫn viên để hỗ trợ, cũng không có một cơ sở lưu trú nào để nghỉ ngơi khi cần thiết. Một số ví dụ điển hình như hồ thủy điện Sông Hinh, suối mây, hồ trung tâm Sông Hinh, đây là những nơi có phong cảnh rất đẹp, nhưng nếu chỉ tham quan, ngắm cảnh thì chỉ cần vài tiếng đồng hồ là đủ. Điều đó cho thấy, một cảnh đẹp, một tiềm năng du lịch mà thiếu đi dịch vụ du lịch hỗ trợ thì giá trị khai thác về góc độ du lịch sẽ giảm đi và nếu cứ tiếp tục như vậy sẽ uổng phí tài nguyên du lịch. Vì vậy dịch vụ du lịch không thể cứ mãi đơn điệu, cũ kĩ mà phải luôn tự làm mới mình bằng cách ngày càng đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch phục vụ khách.
Trong quá trình đa dạng hóa các dịch vụ du lịch, các đơn vị kinh doanh du lịch cần dựa vào những yếu tố đặc thù của doanh nghiệp mình để có những định hướng kinh doanh phù hợp và đạt được hiệu quả cao nhất. Một vấn đề nữa đặt ra đối với việc đa dạng hóa dịch vụ du lịch đó chính là tập trung vào tính mới lạ, không trùng lắp. Vì nếu như áp dụng một cách rập khuôn những mô hình phát triển của các địa phương khác mà không có chút đặc trưng hay sự khác biệt nào thì chắc chắn sẽ không thể hấp dẫn được du khách.
Đa dạng hóa các loại hình dịch vụ du lịch cũng phải dựa trên thế mạnh đặc thù của địa phương mình, trên cơ sở khai thác một cách hiệu quả các tài nguyên du lịch. Nhìn một cách tổng thể thì Sông Hinh có thế mạnh về phát triển du lịch sinh thái, du lịch ẩm thực, du lịch văn hóa nhờ vào hệ tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên nhân văn khá phong phú. Tuy nhiên, việc khai thác, sử dụng tài nguyên du lịch cũng phải đi liền với việc bảo vệ và tái tạo. Có như vậy thì mới có thể phục vụ cho việc đa dạng hóa các loại hình dịch vụ về lâu dài, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
- Chú trọng phát triển dịch vụ lữ hành, dịch vụ lưu trú, ăn uống, dịch vụ vận chuyển du lịch, dịch vụ vui chơi, giải trí và các dịch vụ khác (mua bán hàng lưu niệm, ngân hàng, bưu chính viễn thông).
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong kinh doanh dịch vụ du lịch.
Người viết tin tưởng rằng, với những nỗ lực không ngừng của ngành du lịch Sông Hinh, các doanh nghiệp và người dân nơi đây thì trong tương lai gần, nhất định dịch vụ du lịch của Sông Hinh nói riêng và dịch vụ du lịch Phú yên nói chung sẽ phát triển lên một tầm cao mới, đóng góp tích cực vào sự phát triển ngành du lịch nước nhà.

Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN SÔNG HINH

Cử nhân Nguyễn Trần Vỹ
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch

I- VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH:
1. Quan điểm chung về Lễ hội:
Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa cộng đồng phổ biến và đậm đà bản sắc dân tộc, là tài sản vô giá trong kho tàng di sản văn hóa phi vật thể, làm giàu và phát huy giá trị nền văn hóa dân tộc.
Lễ hội phản ánh những sinh hoạt, những khát vọng cùng tài năng của nhân dân về nhiều mặt của đời sống; đồng thời, thông qua lễ hội: trí tuệ, đạo lý, tình cảm, khuynh hướng thẩm mỹ của nhân dân được tỏa sáng.
Lễ hội đáp ứng một cách hiện thực, hiệu quả đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân trong tổ chức các nghi lễ và hưởng thụ các hoạt động hội, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa của các vùng, miền, dân tộc.
Lễ hội, đó là một loại hình sinh hoạt văn hoá cổ truyền đã trở thành phong tục tập quán của dân tộc Việt Nam. Lễ hội được tổ chức để nhằm thoả mãn nhu cầu sinh hoạt văn hoá, nhu cầu tâm linh của nhân dân, đồng thời góp phần tích cực vào công tác giáo dục truyền thống văn hoá của dân tộc ta cho thế hệ mai sau.
Lễ hội còn là nơi thu hút, sáng tạo nhiều loại hình nghệ thuật, thể thao và các trò chơi dân gian, là bảo tàng sống về văn hoá tinh thần. Thông qua sinh hoạt lễ hội, nhiều môn nghệ thuật, trò chơi, diễn xướng… được phục hồi, theo đó nó có sự tác động sâu sắc đến tình cảm, góp phần xây dựng tính cách và tâm hồn con người, giáo dục truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”.
 Lễ hội là địa điểm đến lý tưởng hấp dẫn đối với người dân, lễ hội không những đưa họ đến với những di tích, góp phần tôn tạo, tu sửa di tích, danh lam thắng cảnh, mà còn nâng cao ý thức trách nhiệm của cả cộng đồng trong việc bảo vệ di tích, danh thắng. Thông qua lễ hội thì những ước mơ, nguyện vọng và năng lực sáng tạo văn hoá của nhân dân sẽ được thể hiện, qua đó góp phần quan trọng trong việc gìn giữ bản sắc văn hoá, đề cao lòng tự tôn dân tộc, là thành lũy đề kháng những văn hoá phẩm độc hại, hướng con người đến với cái chân, thiện, mỹ trong xã hội…
2. Vai trò của hoạt động Lễ hội trong phát triển du lịch:
Từ những quan điểm trên, chúng ta có thể khẳng định Lễ hội, hoạt động lễ hội có vai trò rất quan trọng, gắn liền với sự phát triển của hoạt động du lịch, nhất là trong quá trình hội nhập của đất nước hiện nay.
Một trong những dạng tiêu biểu và đang phát triển mạnh của lễ hội hiện đại đó là lễ hội du lịch.
Lễ hội du lịch còn được gọi là liên hoan du lịch – là thời điểm diễn ra các hoạt động du lịch tập trung trên một địa bàn cụ thể.
Lễ hội du lịch là lễ hội văn hoá do các tổ chức, các đơn vị trong ngành du lịch phối hợp cùng với các cơ quan chức năng hoặc cơ quan trong ngành văn hóa, thể thao, du lịch đứng ra tổ chức. Đây là hình thức hoạt động văn hoá xã hội tổng hợp mang nội dung văn hóa sâu sắc, thông qua việc tổ chức khai thác các giá trị nhiều mặt đặc biệt là giá trị kinh tế từ các hoạt động của lễ hội qua con đường du lịch.
Tuy là hình thức sinh hoạt văn hoá mới mang đậm yếu tố kinh tế, văn hoá xã hội nhưng lễ hội du lịch luôn tiếp thu, kế thừa và phát triển nhằm hoàn thiện và nâng cao những giá trị, thành tựu của nền văn hóa dân tộc. Đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đông đảo các tầng lớp nhân dân.
Xét dưới góc độ kinh doanh, một lễ hội du lịch hay một Festival là nơi tạo cơ hội cho mọi người, mọi tầng lớp: Mua bán, trao đổi các sản phẩm hàng hoá. Tham quan du lịch trong khu vực tổ chức lễ hội du lịch, tạo công ăn việc làm, tìm việc và làm việc. Quảng bá hình ảnh của cá nhân, tổ chức, cơ quan, đơn vị, địa phương, của quốc gia hoặc khu vực.
Xét từ nhiều góc độ, lễ hội du lịch hay liên hoan du lịch trong thời kỳ đổi mới là một phương tiện, một công cụ văn hoá đa năng để giới thiệu những cái hay, cái đẹp, của những miền đất nước, con người trong thời đại mới đang không ngừng đổi thay, tiến bộ cả trong tư duy và hành động. Sự kết hợp giữa lễ hội với du lịch là một cách làm hay, mở ra những cơ hội để quy tụ, tập hợp và liên kết các lợi ích đa dạng giữa các thành phần kinh tế, văn hóa xã hội.
Tổ chức lễ hội gắn với du lịch là nhằm tôn vinh các giá trị tài nguyên thiên nhiên, giá trị lịch sử lễ hội văn hóa của địa phương, góp phần phát triển du lịch bền vững, qua đó nâng cao nhận thức, khơi dậy niềm tự hào, ý thức trách nhiệm cộng đồng khuyến khích người dân bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn nét đẹp truyền thống của các lễ hội, nâng cao trình độ văn hóa ứng xử, văn minh của lễ hội.
Tóm lại, Lễ hội, các hoạt động lễ hội là tiềm năng lớn để xây dựng các sản phẩm du lịch đặc sắc, đặc biệt là du lịch văn hóa gắn với tín ngưỡng, tôn giáo. Sự phong phú về số lượng, sự đa dạng về chủng loại, sự dày đặc về mật độ chính là tiền đề quan trọng góp phần làm đa dạng hóa các sản phẩm của du lịch.
II- THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI Ở HUYỆN SÔNG HINH:
Sông Hinh là huyện miền núi nằm phía Tây - Nam tỉnh Phú Yên với trung tâm huyện là thị trấn Hai Riêng, cách thành phố Tuy Hòa 70 km. Phía Đông giáp huyện Tây  Hòa, phía Đông Nam giáp với 2 huyện Ninh Hòa và Vạn Ninh tỉnh Khánh Hòa, phía Tây và Tây - Bắc giáp tỉnh Đắc Lắc và tỉnh Gia Lai, phía Bắc giáp huyện Sơn Hòa.
Với vị trí địa lý và điều kiện thuận lợi cho việc tạo lập cuộc sống nên nhiều dân tộc như dân tộc Kinh, Bana, Chăm-Hroi, Êđê, Hrê, Raglai… và các dân tộc từ phía Bắc vào định cư sau ngày giải phóng như Tày, Nùng, Dao, Thái, Lu Hủ, Sán Dìu, Sán Chay, Mường, H'Mông, Cao Lan ..v..v.. đã hội tụ về đây sinh sống, lập nghiệp. Hiện nay Theo điều tra dân số của huyện Sông Hinh hiện nay có gần 21.000 người, với hơn 48% là đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó chủ yếu là người Ê Đê, người BaNa và người Chăm H'roi. Chính sự phong phú về các sắc tộc đã tạo cho Sông Hinh trở thành một vùng đất với nhiều sắc thái văn hoá dân gian đa dạng,  đặc biệt là văn hoá phi vật thể vô cùng quý giá của cộng đồng các dân tộc sinh sống từ lâu đời trên vùng đất này, đó là sự đan xen, giao thoa nhiều nền văn hoá, nhiều vùng văn hoá khác nhau để tạo nên một quần thể văn hoá trong sự đa dạng và phong phú.
Từ những thành tố cơ bản trên đã đem lại cho Sông Hinh là huyện có những lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá các dân tộc. Hằng năm những lễ hội này được tổ chức khá chu đáo, có đông đảo quần chúng nhân dân tham gia, như: “Lễ hội đâm trâu” của dân tộc BaNa, “Lễ bỏ mả” của dân tộc Ê Đê và Chăm-Hroi, “Lễ mừng cơm mới”, “Lễ mừng sức khoẻ” của dân tộc Chăm-Hroi, “Lễ mừng nhà mới”, “Lễ cầu mưa”..., đặc điểm chung nhất của các lễ hội ở đây bao giờ cũng gắn chặt với phần văn hoá tâm linh của cộng đồng, các nghi thức gắn với tôn giáo, thần linh, phần hội lại gắn với nhạc cụ cổ truyền của mỗi tộc người. Qua đó, cho thấy hoạt động lễ hội ở Sông Hinh ngày càng được khơi dậy và phát triển, góp phần tích cực cho công tác bảo tồn các giá trị văn hoá phi vật thể của Sông Hinh, của tỉnh Phú Yên nói riêng và các dân tộc Việt Nam nói chung.  
Đặc biệt, là trong năm 2009 vừa qua “Lễ cầu mưa” của dân tộc Êđê huyện Sông Hinh là một trong 10 lễ hội được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch chọn để phục dựng, nhằm bảo tồn các giá trị lễ hội truyền thống tiêu biểu của đồng bào trên các vùng miền trong cả nước.
Về ưu điểm: cũng như hoạt động lễ hội của Phú Yên nói chung, hoạt động lễ hội của huyện Sông Hinh trong thời gian qua có những bước chuyển biến mới, nhất là sau khi Chỉ thị số 27- CT/TW, ngày 12/01/1998 của Ban Chấp hành Trung ương về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội được ban hành. Công tác hướng dẫn, quản lý của chính quyền trong hoạt động lễ hội dần dần đi vào nề nếp; vai trò, ý thức trách nhiệm của người sáng tạo, hưởng thụ văn hoá ngày càng được thể hiện rõ nét; các giá trị, sản phẩm văn hoá được thể hiện qua một số hoạt động trong lễ hội có sự chuyển biến tích cực; Lễ hội được thể hiện khá phong phú, đa dạng về cách tổ chức, thành phần tham gia và hoạt động; giữ được những nghi thức truyền thống; được tổ chức mang tính nghệ thuật, tính cộng đồng và tính thẩm mỹ cao hơn.
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể trong hệ thống và nghiêm túc nhận xét thì công tác tổ chức, hướng dẫn, quản lý lễ hội ở huyện Sông Hinh vẫn còn nhiều hạn chế và tồn tại, cần sớm được khắc phục, đó là:
- Về năng lực tổ chức, quản lý thì vai trò của Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức lễ hội thể hiện qua công tác điều hành, hướng dẫn, đảm bảo vệ sinh môi trường… chưa thật sự sâu sát; Chưa coi trọng vai trò và sức sáng tạo của nhân dân trong việc tham gia tổ chức lễ hội.
- Lễ hội là một loại hình sinh hoạt văn hóa tổng hợp đa dạng và phong phú. Trên thực tế sự kết hợp giữa lễ hội và các địa danh, các điểm du lịch hiện có của huyện, nhằm khai thác các giá trị lễ hội, tạo nên sự hấp dẫn đối với du khách về Sông Hinh để du lịch, thưởng thức chưa thực hiện được.
- Việc đầu tư đúng mức cho hoạt động lễ hội cũng chưa được chú trọng, cho nên kinh phí đầu tư và phục vụ cho các lễ hội đang còn nhiều hạn chế.
III- HOẠT ĐỘNG LỄ HỘI TRONG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN SÔNG HINH - ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP:
Từ những cơ sở lý luận trên, đồng thời từ thực trạng, khó khăn hiện tại, cho thấy hiện nay việc phát huy những cái đẹp, điểm mạnh từ lễ hội ở Sông Hinh để tạo ra sản phẩm du lịch, phục vụ cho hoạt động du lịch vẫn chưa được khai thác. Vậy cần phải làm gì để khai thác được những tiềm năng và lợi thế vốn có của mình, bảo tồn, nâng cấp, phát triển các loại hình Lễ hội, các hoạt động lễ hội trong phát triển du lịch ở huyện Sông Hinh ? Xin đề xuất định hướng và những giải pháp sau đây:
1- Cần có một công trình nghiên cứu khoa học mang tính tổng thể về lễ hội truyền thống trên địa bàn huyện:
Trong đó những người làm công tác nghiên cứu văn hóa phải chỉ ra được những giá trị tích cực của từng lễ hội. Hay nói cách khác, họ phải rạch ròi đâu là tín ngưỡng văn hóa dân gian, đâu là mê tín dị đoan, đâu là những giá trị vốn có, đâu là những yếu tố lai tạp, vay mượn, chắp vá... trong một lễ hội. Từ đó, những người làm du lịch lựa chọn cái nào có thể biến thành sản phẩm phục vụ đối tượng khách nào, vào thời điểm nào, ở đâu và như thế nào. Ngược lại, sự lựa chọn của người làm du lịch có tiếng nói của giới nghiên cứu, người làm văn hóa với vai trò phản biện sẽ làm cho sản phẩm chất lượng hơn. 
2- Phải xác định, chọn cho được lễ hội chủ đạo, tiêu biểu của địa phương:
Như đã nêu trên, Sông Hinh là huyện có nhiều lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá các dân tộc, như: “Lễ hội đâm trâu” của dân tộc BaNa, “Lễ bỏ mả” của dân tộc Ê Đê và Chăm-Hroi, “Lễ mừng cơm mới”, “Lễ mừng sức khoẻ” của dân tộc Chăm-Hroi, “Lễ mừng nhà mới”, “Lễ cầu mưa”.... Vì vậy cần phải xác định, chọn ra những lễ hội chủ đạo, trong đó có thể là những lễ hội tiêu biểu đại diện cho từng dân tộc ...Có như vậy, thì việc đầu tư để bảo tồn, nâng cấp được tập trung, không bị dàn trải và sẽ có chất lượng cao hơn. 
Vì tự thân di tích - lễ hội chưa thể trở thành những điểm du lịch. Muốn biến di tích - lễ hội trở thành “hàng hóa” du lịch, phải bổ sung cơ sở vật chất, thiết bị hạ tầng và hàng loạt các dịch vụ khác, như hệ thống đường sá, phương tiện vận chuyển, nhà hàng khách sạn, thông tin liên lạc, cấp cứu y tế… đủ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. 
3. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng:
Sau khi thực hiện những nhiệm vụ trên, thì cần phải làm cho người dân nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng và sự cần thiết nâng cao chất lượng lễ hội để phục vụ phát triển du lịch. Tổ chức lễ hội gắn với du lịch là nhằm tôn vinh các giá trị tài nguyên, lịch sử, lễ hội văn hoá của địa phương, góp phần phát triển du lịch bền vững, qua đó nâng cao nhận thức, khơi dậy lòng tự hào, ý thức trách nhiệm cộng đồng, khích lệ người dân bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, giữ gìn nét đẹp các lễ hội truyền thống, nâng cao văn minh, văn hoá ứng xử.
Qua đó, dẫn chứng việc tổ chức lễ hội ở một số địa phương có du lịch phát triển đã đem lại hiệu quả thiết thực: tạo được nguồn thu, giải quyết việc làm, thu nhập cho người dân, góp phần xoá đói, giảm nghèo, từ đó thu hút sự quan tâm của cộng đồng, người dân sẽ tích cực tham gia vào các hoạt động lễ hội, phục vụ lễ hội. Làm cho người dân trên địa bàn được gắn kết vào hoạt động lễ hội để cùng chia sẻ quyền lợi và trách nhiệm.
4. Chú trọng đến địa điểm nơi tổ chức lễ hội
Địa điểm tổ chức cần gắn với yếu tố lịch sử truyền thống nơi đó. Tuy nhiên cần bố trí một số khu vực liền kề hoặc gần với khu vực tổ chức lễ hội, có khoảng không gian rộng, thuận lợi về mặt giao thông để tổ chức nhiều hoạt động cho phần hội; cần có khu vực để du khách tham quan, tham dự vào các buổi lễ.
5. Xác định đối tượng tham gia lễ hội
Ngoài đối tượng là người dân địa phương, người dân trong khu vực, sự tham dự của các cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức, doanh nghiệp, các cơ quan thông tin đại chúng… thì đối tượng cần nhắm đến đó là du khách, đặc biệt là du khách trong nước, từ đó có các hoạt động đặc trưng của địa phương để thu hút khách.
6. Chú trọng và đa dạng các hoạt động phần hội
Cần kết hợp các phần lễ và phần hội vào hoạt động du lịch. Ngoài phần lễ, thì phần hội nên tổ chức nhiều hoạt động lồng ghép như: Tổ chức các trò chơi dân gian, các hoạt động thể thao, gắn các tour tham quan du lịch…qua đó, không gian lễ hội được mở rộng, thu hút được nhiều đối tượng khách tham gia.
Tùy theo tính chất lễ hội, các đơn vị kinh doanh du lịch sẽ xây dựng chương trình du lịch có lồng ghép nội dung lễ hội vào để bán cho khách, chẳng hạn như: Khi tổ chức “Lễ cầu mưa“ của đồng bào dân tộc Êđê tại Ea Bia hoặc Ea Trol, cần gắn tuyến du lịch đến tham quan thủy điện sông Hinh - sông Ba Hạ, thăm khu di tích Nhà thờ Bác Hồ...;
Lễ hội và các chương trình du lịch phải được tính toán về mặt thời gian hợp lý để khách du lịch vừa tham dự lễ hội vừa được tham gia các chương trình du lịch.
7. Kinh phí tổ chức lễ hội
Ngoài kinh phí chung của ngân sách hỗ trợ, cần phát huy sức mạnh cộng đồng, kêu gọi, khuyến khích mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong nước và nước ngoài tài trợ và tham gia tổ chức một số hoạt động của phần hội.
Trong lĩnh vực du lịch, việc kêu gọi nhà tài trợ để tham gia tổ chức lễ hội là cần thiết. Cần làm rõ các quyền lợi và trách nhiệm, các nội dung công việc cần kêu gọi tài trợ để nhà tài trợ lựa chọn hình thức tham gia phù hợp, đảm bảo cho lễ hội tổ chức hoành tráng, đặc trưng, ấn tượng, hiệu quả, an toàn và tiết kiệm;
Tăng cường công tác vận động, huy động sức mạnh tổng hợp của cộng đồng cả về vật chất, tinh thần để tham gia, ủng hộ tổ chức Lễ hội.
8. Công tác chuẩn bị tổ chức lễ hội
Xây dựng kế hoạch, thành lập Ban chỉ đạo, Ban tổ chức và các tiểu ban phụ trách từng phần nội dung công việc cụ thể, tùy theo từng lễ hội, các nội dung của phần hội để xây dựng kịch bản, chương trình, kế hoạch cho từng nội dung. Tổ chức các phương án bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội cho lễ hội và du khách.
9. Nguồn nhân lực
Đối với những lễ hội tổ chức với quy mô lớn cần đặc biệt quan tâm đến việc đào tạo đội ngũ hướng dẫn viên, thuyết minh viên, tình nguyện viên; tổ chức các khóa tập huấn, bồi dưỡng kiến thức du lịch và văn hoá cộng đồng để phục vụ cho khách đến tham dự lễ hội.

Tóm lại, Phú Yên đang ráo riết chuẩn bị tổ chức kỷ niệm 400 năm Phú Yên gắn với Năm du lịch Quốc gia Duyên hải Nam trung bộ- Phú Yên 2011, dự kiến sẽ có nhiều lễ hội được tổ chức với quy mô lớn để gắn kết với các hoạt động Năm du lịch Quốc gia. Do đó, ngay từ bây giờ chúng ta cần xác định các lễ hội tiêu biểu, đặc trưng của huyện Sông Hinh để có kế hoạch tổ chức, nâng cao chất lượng cả về hình thức lẫn nội dung. Một mặt khai thác các giá trị của lễ hội phục vụ cho hoạt động du lịch của địa phương, mặt khác góp phần làm phong phú, đa dạng các loại hình lễ hội của Phú Yên, giới thiệu và thu hút du khách đến với Phú Yên nói chung và Sông Hinh nói riêng.

Thứ Năm, 4 tháng 2, 2016

NGUỒN NHÂN LỰC TRẺ HUYỆN SÔNG HINH TRONG CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN DU LỊCH

Lê Thanh Tùng
Phó Bí thư Huyện đoàn Sông Hinh

Hôm nay, chúng tôi rất vinh dự và vui mừng đến dự Hội thảo “Định hướng và giải pháp phát triển du lịch huyện miền núi Sông Hinh”. Thay mặt tuổi trẻ huyện nhà, tôi thân ái gửi đến các vị khách quý, các đồng chí lãnh đạo, các đồng chí đại biểu cùng toàn thể hội thảo lời chức mừng sức khỏe, hạnh phúc, chúc hội thảo chúng ta thành công tốt đẹp.
"Thanh niên là tương lai của đất nước, là lực lượng xã hội hùng hậu, có tiềm năng to lớn, xung kích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc" Khoản 1, Điều 4, Luật Thanh niên. Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) của Đảng ta đã chỉ rõ: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ 21 có vị trí xứng đáng trong cộng đồng thế giới hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không phần lớn tuỳ thuộc vào lực lượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng, rèn luyện thế hệ thanh niên”.
Trong sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế ngày nay, các tầng lớp thanh niên đã tiếp bước cha anh, nhận thức đúng tình hình và nhiệm vụ, nêu cao chí tiến thủ, phát huy phẩm chất tốt đẹp và thế mạnh của tuổi trẻ, xung kích, đảm đương những việc khó, nơi khó, chấp nhận mọi gian nan, thách thức, chủ động, sáng tạo, góp phần làm nên những thành tựu mới to lớn và có ý nghĩa lịch sử. Nhiều tấm gương thanh niên tiêu biểu trong lao động sản xuất, làm kinh tế, trong hoạt động văn hoá- xã hội, khoa học kỹ thuật cũng như trong nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.v.v... đã làm sâu sắc thêm niềm tự hào của thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay. Các hoạt động của tuổi trẻ trong những năm gần đây tiếp tục phát triển. Các phong trào “Thanh niên lập nghiệp'', “Thanh niên tình nguyện'', “Tuổi trẻ giữ nước'' v.v... đã tạo được những dấu ấn tốt đẹp trong đời sống xã hội. Các hình thức sinh hoạt truyền thống, giáo dục đạo đức, lối sống, các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao, giúp nhân dân chống bão lụt v.v... đã thu hút đông đảo lực lượng trẻ tham gia, vừa đóng góp vào nhiệm vụ chung, vừa thiết thực chăm lo lợi ích chính đáng của thanh niên.
Kết quả là, cùng với những thành tựu quan trọng và to lớn đạt được trong thời gian qua của Đoàn thanh niên huyện nhà, công tác giáo dục thanh niên đã góp phần tạo dựng nên một lớp thanh niên mới, trong đó có bộ phận thanh niên tiên tiến đi đầu trên nhiều lĩnh vực, có thái độ, nhận thức tốt và ý thức chính trị cao, có ý chí vượt qua khó khăn, vươn lên lập thân, lập nghiệp, phát huy mạnh mẽ truyền thống xung kích, tình nguyện của những thế hệ thanh niên cách mạng lớp trước, đó cũng là những phẩm chất nổi trội của thanh niên trong thời đại Hồ Chí Minh. Trong giai đoạn hiện nay, công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên và xây dựng tổ chức Đoàn vững mạnh đã và đang đặt ra những vấn đề bức thiết cho các cấp bộ Đoàn nói chung, tổ chức Đoàn Huyện Sông Hinh nói riêng.
Sông Hinh là một huyện miền núi được thành lập gần 26 năm; vị trí địa lý nằm cách xa trung tâm văn hóa tỉnh lỵ, giao thông đi lại chỉ mới thuận tiện trong thời gian gần đây; nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, là địa phương có 18 thành phần dân tộc sinh sống như Kinh, Êđê, Ba Na, Chăm H’Roi, Dao, Tày, Nùng, Sán Dìu… đã tạo ra sự phong phú về những nền văn hóa khác nhau, phong tục tập quán sinh hoạt, lao động sản xuất khác nhau. Đây vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho công tác tập hợp, đoàn kết thanh niên vào tổ chức Đoàn - Hội, nhất là ở cơ sở. Trong những năm qua, các cấp bộ Đoàn ở Huyện Sông Hinh đã có nhiều cố gắng, sáng tạo nhiều mô hình hoạt động nhằm thu hút, tập hợp thanh niên đến với tổ chức, vận động đoàn viên thanh niên tham gia phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, bảo vệ an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, chống lại các âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, nhất là những hoạt động của đạo Tin Lành Đề ga ở Tây Nguyên.
Toàn Huyện hiện có: 3.286 Đoàn viên trên tổng số 9.500 thanh niên, chiếm 34,59% trong đó:
+Thanh niên khối xã, thị trấn: Chiếm 40% so với tổng số thanh niên toàn huyện, hầu hết có trình độ văn hóa khá; nhạy bén năng động, có khát vọng vươn lên làm giàu chính đáng; biết áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp. Song vẫn có một bộ phận thanh niên trình độ văn hóa hạn chế, chưa có nghề nghiệp ổn định thiếu vốn, chưa có việc làm.
+Thanh niên đồng bào dân tộc thiểu số: Chiếm lực lượng khá đông khoảng trên 45% so với tổng số thanh niên toàn huyện; thật thà chất phát, siêng năng trong lao động và có ước vọng làm giàu.
+Thanh niên là học sinh: Chiếm gần 20% so với tổng số thanh niên toàn huyện, có tinh thần học tập tốt, xuất hiện nhiều điển hình vượt khó học giỏi; có ước mơ hoài bảo lớn và khát vọng được góp công xây dựng quê hương. Tuy nhiên, chất lượng học tập so với miền xuôi còn thua kém, một số ít không xác định được động cơ học tập, không chịu khó học hỏi nên chất lượng học tập còn hạn chế.
+Thanh niên CNVC và LLVT: Chiếm khoảng 8% so với tổng số thanh niên toàn huyện, hầu hết có trình độ văn hóa cao, có nhận thức chính trị tốt, chịu khó học tập lao động, luôn có ý chí tiến thủ, mong muốn có việc làm ổn định và lâu dài.
+Thanh niên tín đồ tôn giáo: Chiếm 19,2% so với thanh niên toàn huyện. Trong đó phật giáo 1.206 thanh niên; Thiên chúa giáo 508 thanh niên; Tin lành 142 thanh niên, các tôn giáo khác 160 thanh niên. Đa số trưởng thành trong gia đình tôn giáo truyền thống, có sự nhận thức đúng đắn về đức tin tôn giáo và chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế - xã hội phổ biến, sự phát triển dụ lịch là một nhu cầu khách quan của đời sống gia tăng cùng nhịp độ chung của nền kinh tế, đồng thời cũng là mối giao lưu cần thiết trong quan hệ trong và ngoài tỉnh. Với tiềm năng phong cảnh thiên nhiên sẵn có của một huyện niềm núi Sông Hinh như: Nhà máy thủy điện Sông Hinh, Nhà máy thủy điện Sông Ba Hạ, thác Đraitang xã EaTrol, thác H’Ly xã Sông Hinh và nhiều cảnh quan thiên nhiên khác trên địa bàn huyện. Với sự phát triển của ngành du lịch đã cho phép con người đến bất cứ điểm dân cư nào trên trái đất với một thời gian tương đối ngắn. Chính vì vậy, nhu cầu của khách du lịch ngày càng phong phú, đòi hỏi của họ ngày càng cao về chủng loại, chất lượng các dịch vụ du lịch. Có người du lịch để nghỉ ngơi, dưỡng bệnh tăng cường sức khoẻ người khác du lịch để nâng cao sự hiếu biết về thế giới xung quanh và các nhu cầu khác của mình.
Công tác phát triển du lịch là một động lực phát triển kinh tế, hay nói cách khác đó là mục tiêu vươn tới sự phát triển về mặt tinh thần của nhân dân, du khách và lực lượng ĐVTN trong và ngoài tỉnh. Với cảnh quan thiên nhiên phong phú, nhiều nét văn hóa và lịch sử đặc sắc, sự phát triển năng động của nền kinh tế, ổn định về chính trị, cùng với lòng hiếu khách của cộng đồng trên địa bàn huyện Sông Hinh, đây vừa là động lực vừa là cơ hội cho nguồn nhân lực tuổi trẻ huyện nhà có cơ hội tìm kiếm việc làm ổn định, tăng thu nhập cao trong tương lai. Ngoài những thế mạnh về du lịch cảnh quan thiên nhiên và văn hóa bản sắc đặc trưng riêng của các dân tộc trên địa bàn huyện. Bên cạnh đó du khách được tìm hiểu truyền thống lịch sử văn hóa của cộng đồng các dân tộc, đây là thế mạnh riêng về du lịch cộng đồng, sinh thái phát huy thế mạnh đặc thù của vùng đất Sông Hinh này.
Với gốc độ của Đoàn thanh niên trước những thuận lợi về nguồn nhân lực dồi dào của tuổi trẻ Huyện nhà để kịp thời đáp ứng cho công tác phát triển ngành du lịch sinh thái, cộng đồng của huyện miền núi Sông Hinh trong tương lai chúng ta cần đưa ra mục tiêu giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo thế hệ thanh niên phát triển toàn diện, trở thành nguồn nhân lực trẻ có chất lượng cao và phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của thanh niên trong sự nghiệp phát triển du lịch một cách chuyên nghiệp. Đây là chiến lượt tầm nhìn xa cho nguồn nhân lực của tuổi trẻ huyện nhà tiến tới mục đích giảm thiểu tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm trong thanh niên, nâng cao thu nhập cho thanh niên, nâng cao sức khoẻ, đời sống tinh thần, xây dựng nếp sống văn hoá và ý thức tuân thủ pháp luật, đẩy lùi tệ nạn xã hội, tình trạng phạm pháp trong thanh niên, đây cũng là điều kiện nâng cao năng lực giao lưu, hợp tác quốc tế của thanh niên, nâng cao vị thế của thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên huyện Sông Hinh nói riêng trong hoạt động giao lưu quốc tế, góp phần bảo vệ, củng cố hoà bình, tăng cường tình hữu nghị và đoàn kết với thanh niên các nước. Có như vậy thanh niên đủ điều kiện phát huy phong trào thanh niên và nâng cao chất lượng hoạt động của Đoàn Thanh niên các cấp. Tăng cường đầu tư cho công tác thanh niên và xây dựng môi trường xã hội thuận lợi cho sự phát triển toàn diện của thanh niên Sông Hinh trong thời gian gần nhất. 
Để có thể phát huy nguồn nhân lực trẻ Huyện Sông Hinh trong công tác phát triển du lịch, chúng tôi xin phép tham gia một số ý kiến để tham khảo với hội thảo:
Vấn đề thứ nhất: Việc khảo sát đánh giá đúng mức các loại hình tài nguyên du lịch của huyện miền núi Sông Hinh. Trong đó, cần xem lại thế mạnh du lịch sinh thái, bên cạnh đó sẽ có những loại hình vui chơi giải trí nghỉ dưỡng nào phù hợp, hấp dẫn, mới lạ và có khả năng thu hút khách du lịch. Chúng ta có thể nghiên cứu một số  loại hình du lịch cộng đồng đây là nét văn hóa riêng của huyện miền núi Sông Hinh. Để đạt được yêu cầu này, vấn đề trọng yếu là nên sử dụng nguồn nhân lực tại chỗ của địa phương để thể hiện rõ nét về bản sắc riêng loại hình phát triển du lịch miền núi, đây là điểm nhấn của công tác phát triển du lịch huyện Sông Hinh.
Vấn đề thứ hai: Chính là cần thực hiện nhiệm vụ điều tra thị trường  khách du lịch quốc tế và nội địa quan tâm đến loại hình du lịch sinh thái, cộng đồng của huyện Sông Hinh. Từ đó, có thể định hướng và xác định được thị trường khách du lịch trong và ngoài nước, có nhu cầu đến Sông Hinh để tham gia loại hình du lịch, kết hợp nhiều loại hình du lịch khác. Ngoài ra, cần phải tính đến thị trường khách du lịch trong khu vực.
Vấn đề thứ ba: Chúng tôi cho rằng vấn đề không kém phần quan trọng đó là cần sự tính toán đến chi phí các dịch vụ du lịch phù hợp với thu nhập của các tầng lớp dân cư trong vùng cũng như khách du lịch quốc tế.
Vấn đề thứ tư: Là công tác xúc tiến quảng bá du lịch sinh thái – cộng đồng của huyện Sông Hinh là vấn đề xin được trao đổi trong bài tham luận này. Có thể nói hiện nay, Sông Hinh ít được giới thiệu đến với các Cty lữ hành quốc tế và nội địa. Khách du lịch cũng chưa hiểu nhiều lắm về lĩnh vực du lịch của huyện miền núi Sông Hinh. Cho nên cùng với việc nâng cao chất lượng những sản phẩm du lịch đã có và xây dựng sản phẩm du lịch mới. Chúng tôi suy nghĩ và mong muốn rằng, ngành du lịch của tỉnh Phú Yên, cần có sự trao đổi, thảo luận thống nhất kế hoạch xúc tiến quảng bá điểm đến du lịch, trong đó có loại hình du lịch sinh thái trên địa bàn huyện Sông Hinh. 
Vấn đề thứ năm: Cần được quan tâm đúng mức. Hiện nay, nguồn nhân lực trẻ của huyện Sông Hinh chưa đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực cho ngành du lịch hiện nay cũng như trong thời gian tới.
Với kinh nghiệm của Sở VHTT&DL tỉnh Phú Yên và với quyết tâm mới, chúng tôi tin tưởng và hy vọng rằng, kế hoạch liên kết phát triển du lịch sinh thái của huyện miền núi Sông Hinh sẽ được triển khai trong thời gian sớm nhất, với những nội dung thiết thực, mang tính đồng bộ và đem lại hiệu quả tích cực, thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững của du lịch huyện Sông Hinh.

Xin trân trọng cảm ơn!

Thứ Ba, 15 tháng 9, 2015

Lễ mừng tuổi- Nét văn hóa truyền thống tiêu biểu cần bảo tồn.


Cúng ché 7 mừng tuổi (ảnh Tuyền Đề)
Vào mùa khô, khi lúa đã đầy nhà, rẫy đang lên xanh tốt, người Ê Đê tranh thủ thời gian rảnh rỗi này để tổ chức các lễ hội mang tính cộng đồng như cúng nhà mới, cúng bến nước, trong đó đáng kể và phổ biến nhất ở các buôn làng đó là lễ mừng tuổi.

Theo phong tục của người Ê Đê, khi người con trai trong nhà biết tự mình làm nương, phát rẫy, trỉa bắp, trồng lúa; biết đi rừng chặt củi, săn bắn là được bố mẹ  hoặc anh chị làm lễ mừng tuổi trưởng thành. Từ nhiều ngày trước, gia chủ chuẩn bị sắn nhiều vật dụng như trống, chiêng, làm dàn treo chiêng, để trống, cây lê ô trước bậc thang, khiel, bầu nước... Lễ mừng tuổi lớn khôn có nhiều cấp bậc, trong đó lớn nhất là cúng ché 7, gia chủ cần phải chuẩn bị hàng chục ché rượu và một con heo thiến nặng 100 kg để cúng và đãi dân làng.

Ảnh Tuyền Đề
          Lễ mừng tuổi diễn ra trong bốn ngày, ngày thứ nhất, gia chủ chuẩn bị một ché rượu cho thày cúng báo với Giàng, thần núi, thần sông về việc sắp tổ chức lễ mừng tuổi của gia đình. Sáng hôm sau, ngay từ tinh mơ, khi các thú rừng còn đang ngủ, người dân trong buôn đang say giấc, người được mừng tuổi đến bến nước của buôn tắm rửa sạch sẽ thể hiện sự trang trọng trước khi vào nghi lễ chính thức và lấy một bầu nước đem về nhà.

Tắm bến nước- Nghi thức không thể thiếu trong lễ mừng tuổi
Ảnh Tuyền Đề
Trong ngày chính thức, một phần thịt heo được cắt từ đuôi đến đầu được cột trang trọng giữa nhà trước một dãy ché dài. Chiêng trống nổi lên, thày cúng mời Giàng, thần về chứng giám và trao sức mạnh cho người làm lễ.

Với người Ê Đê, nước là cội nguồn của cuộc sống, nước còn giúp con người tẩy rửa những tội lỗi, những ngu si để trở thành người mạnh mẽ, thông minh và khôn khéo. Vì vậy một lần nữa, người được cúng mừng tuổi lại được đưa ra bến nước đầu buôn tắm, mang theo nhiều vật dụng biểu hiện sức mạnh như dao, dựa, khiel; mọi người nhảy múa điệu Chinh krứ đón mừng sự trưởng thành của một người con của buôn làng. Đến nhà, người mẹ đã chờ sẵn để chờ con trai báo công.
Mổ heo cúng và đãi dân làng. Ảnh Tuyền Đề
Xuyên suốt trong lễ mừng tuổi lớn khôn, người thầy cúng đã cầu mong cho chàng nhận được sự truyền nối sức mạnh truyền thống của bộ tộc mình. Mọi người trao vòng gửi gắm niềm tin và hy vọng sức mạnh của chàng trai giúp bảo vệ và xây dựng buôn làng phát triển. Sau khi đã hoàn thành, người được làm lễ trưởng thành tạ ơn bố mẹ, hoặc anh chị một con bò mổ thịt cùng chiêu đãi dân làng.

Bỏ qua những hạn chế, lễ mừng tuổi của người Ê Đê tạo sự gắn kết trong cộng đồng, thể hiện khát vọng cuộc sống tràn đầy sức khỏe, bình yên và hạnh phúc. Ngày nay, mừng tuổi vẫn còn diễn ra phổ biến, tuy nhiên đã có biểu hiện pha tạp như mở nhạc để nhảy thay vì tiếng trống, tiếng kèn, người biết đánh cồng chinh cũng ít dần; một số vật dụng phục vụ trong lễ mừng tuổi như Trống cái, Khiel, bầu nước… ngày càng hiếm. Vì vậy rất cần thiết có chính sách bảo tồn lễ mừng tuổi, một nét văn hóa truyền thống tiêu biểu của người Ê Đê đúng theo tinh thần nghị quyết TW 5 của Đảng đã đề ra.

V. Thùy  


BÀI THU HOẠCH MÔN PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRONG CTXH

            Họ tên SV: An Văn Thùy, MSSV: 62113081PY, nhóm “Sông Hinh 10”

Lớp: CTXH K12 Phú Yên, hệ từ xa

Qua quá trình thực hiện bài tập thực hành môn Phương pháp nghiên cứu trong CTXH, bản thân có một vài cảm nhận sau:

Nhận thức được tầm quan trọng trong tiến trình phát triển nghề nghiệp, mỗi thành viên trong nhóm đã nghiêm túc thực hiện yêu cầu của môn học qua việc làm cụ thể như: họp nhóm để bàn bạc, thảo luận chủ đề để làm bài thực hành; liên hệ với các cơ quan chức năng tại địa phương như Trung tâm y tế huyện, trạm xá xã Ea Bia để tham khảo ý kiến và lấy tư liệu… Mặc dù nhiều ý kiến khác nhau về chọn chủ đề, nhưng cuối cùng nhóm đã có sự thống nhất chung với chủ đề được chọn là Tìm hiểu kiến trúc nhà sàn của người Ê Đê có tác động đến bệnh viêm đường hô hấp của trẻ dưới 6 tuổi hay không? Phạm vi nghiên cứu trong địa bàn xã Ea Bia, đối tượng nghiên cứu là cha, hoặc mẹ có con dưới 6 tuổi đã từng bị mắc bệnh liên quan đến đường hô hấp trong khoảng thời gian ba tháng trở lại đây. Cùng với việc xác định chủ đề nghiên cứu, phác thảo mô hình, đặt giả thuyết… các thành viên trong nhóm cũng đã rất quan tâm đến việc thiết kế bảng hỏi nhằm thu thập thông tin phục vụ cho việc phân tích, chứng minh các giả thuyết đã nêu ra.

FILE TÁCH ÂM PHỎNG VẤN BẰNG BẢN HỎI ĐỊNH LƯỢNG


PVV: An Văn Thùy, Nhóm “Sông Hinh 10”

Thời gian 09 giờ 30’, ngày 11/6/2015

Đối tượng PV: Ma Trin, buôn Hai K Rông, xã Ea Bia

Nội dung:

- PVV: Chào em, anh đang làm một cuộc nghiên cứu trong ngành công tác xã hội về đề tài nhà sàn của buôn làng mình với sức khỏe trẻ em, nó ảnh hưởng đến trẻ em như thế nào. Mục đích là để tìm hiểu xem có ảnh hưởng hay không, các thông tin thu thập được chủ yếu phục vụ cho nghiên cứu, cho việc thực hành ngành công tác xã hội. Mong em nói sao cho thật, cho đúng nhé!
........................................

            Trước tiên cho anh biết tên?

Ma Trin

- PVV: Năm nay em bao nhiêu tuổi?

Sinh năm 1980

- PVV: Giới tính là Nam?

            ...

- PVV: Thu nhập bình quân gia đình em một tháng là bao nhiêu, em thử  tính xem?

Lương em hai triệu bảy, vợ em triệu tư

-PVV: vậy là bốn triệu mốt?

- PVV: Như em là cao đẳng phải không?

Trung cấp

- PVV: Nghề nghiệp của em? Em làm gì?

Công chức đó

- PVV: Nhà này em làm lâu chưa?

Năm 2010, tới nay là 05 năm rồi

- PVV: Nhà em làm theo kiểu gì?

Nhà sàn gốc Ê Đê đó

- PVV: Mái em làm bằng vật liệu gì?

Mái ngói

- PVV: Em làm nhà xong ở đây luôn hả?

Được 5 năm rồi

- PVV: Em từng thấy ngôi nhà nào lợp bằng cỏ tranh và ở trong đó khi nào chưa?

Có chứ

- PVV: Em ở trong đó chưa, ăn uống, sinh hoạt một vài ngày chẳng hạn?

Lúc còn nhỏ ở thường xuyên, nói chung đã từng ở rồi

- PVV: Ở trong nhà mái bằng cỏ tranh mình cảm thấy như thế nào, mát mẻ hay nóng nực?

Mát mẻ chứ, rất mát chứ.

- PVV : Như em sao không sử dụng cỏ tranh làm mái?

Giờ không còn cỏ tranh nữa, mình tìm tranh khó hơn tìm vật liệu ngói

- PVV: Mình cảm thấy ở trong những ngôi nhà lợp bằng ngói thì như thế nào?

Nóng nhiều hơn với lợp cỏ tranh. Nóng hơn.

- PVV: Nghĩa là so mái ngói với mái tranh, nhà mái ngói nóng hơn nhà mái tranh?

Đúng rồi, mái ngói khi nắng sẽ  nóng, còn mái tranh làm đúng bằng tre, trên là cỏ tranh thì nó mát.

- PVV: Khoảng cách từ mái ngói đến sàn nhà ngày nay với ngày xưa có khác nhau không?

Không thay đổi, chiều cao của nhà hả

- PVV: Đúng rồi

Không đổi

- PVV: Em ở trong nhà lợp bằng mái ngói thì em có nhận thấy khoảng cách từ mái ngói đến sàn nhà cành cao có ảnh hưởng đến không khí trong nhà khi trời nắng?

Nếu càng cao thì nó mát hơn

- PVV: Tại sao mình làm nhà sàn đều có khe hở dưới sàn này?

Sàn dưới hả? Theo em thì để cho dễ vệ sinh, tạo thoáng mát, gió thông qua

- PVV: Có phải theo truyền thống hay tiện cho việc uống rượu cần?

Đúng là theo truyền thống và cũng tiện cho việc uống rượu cần

- PVV: Nhà có khe hở thế này khi trời nắng thì trong nhà như thế nào?

Nó mát hơn

- PVV: Còn ban đêm?

Mát hơn

- PVV: Khi trời mưa giông, thời tiết thay đổi thì trong nhà như thế nào?

Rất lạnh

- PVV: Em được mấy con rồi?

Hai con

- PVV: Mấy đứa dưới 6 tuổi?

Một

- PVV: Ngủ chung hay ngủ riêng?

Hai đứa ngủ chung với bố mẹ

- PVV: Vợ chồng nuôi con nhỏ cảm thấy như thế nào

Bận rộn chứ, nuôi con nhỏ mà

- Chăm sóc trẻ, trời nắng nóng như thế này có cho con mặc quần áo mát mẻ, phù hợp không?

Nếu trời lạnh cho mặc áo ấm, bình thường cho mặc áo mỏng như đây

- PVV: Trong những ngày gần đây, thời tiết thay đổi, ngày nắng có khi đêm lại lạnh, mình có cho con mặc đồ phù hợp không?

Có chứ

- Mình có chuẩn bị mền phòng khi trời trở để đắp cho trẻ?


- Buổi tối mình có mở cửa phòng ngủ không?

Trời nóng thì mở, lạnh thì đóng?

- PVV: Đêm lạnh mình có nhớ đóng không?

Có nhớ, thường xuyên nhớ

- PVV: Mình có sử dụng quạt điện thường xuyên không?


- PVV: Đêm mình có tắt quạt không?

Mùa hè này để quạt cả đêm, đến sáng luôn, không tắt

- PVV: Theo em thì thời tiết những ngày qua có ảnh hưởng gì đến sức khỏe của trẻ?

Có lúc bị cảm cúm, lúc chảy máu cam, tùy theo thời tiết

- PVV: Cảm ơn sự hợp tác. Nếu có ai hỏi thì xin xác nhận là đã  có cuộc phỏng vấn. Xin chân thành cám ơn!