RSS
Write some words about you and your blog here
Hiển thị các bài đăng có nhãn hai rieng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn hai rieng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 20 tháng 4, 2013

Du lịch Sông Hinh:


Pháo hoa tại công vien 25/2, mừng 25 năm thành lập huyện Sông Hinh

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN QUAN TÂM TRONG QUÁ TRÌNH
PHÁT TRIỂN

Phòng Nghiệp vụ Du lịch
Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch Phú Yên
 
1. Một số vấn đề về du lịch sinh thái
“Du lịch sinh thái (Ecotourism) là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”. Đây là một lĩnh vực kinh doanh đang phát triển mạnh trong những năm gần đây và đang trở thành một xu hướng tích cực đảm bảo cho sự phát triển du lịch bền vững gắn liền với việc bảo tồn thiên nhiên và môi trường, các giá trị nhân văn giàu bản sắc văn hoá của mọi dân tộc thông qua nhận thức của xã hội và của cộng đồng.
Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch, có một số đặc trưng cơ bản: Được đầu tư, khai thác ở những khu vực thiên nhiên, đặc biệt ở các khu bảo tồn, vườn quốc gia; Có chứa đựng yếu tố giáo dục và giải thích về môi trường tự nhiên và nhân văn tại khu vực du lịch; Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường tự nhiên và môi trường văn hoá - xã hội; Tăng cường nhận thức về việc bảo tồn các tài nguyên tự nhiên và nhân văn cho cả người dân địa phương và các du khách; Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương và tạo ra những lợi ích kinh tế, lợi ích văn hoá xã hội cho cộng đồng, các tổ chức ở địa phương và đơn vị, doanh nghiệp quản lý các khu vực tự nhiên; Du lịch sinh thái thường được tổ chức bởi những doanh nghiệp chuyên kinh doanh về du lịch sinh thái…
Công viên 25/2, điểm vui chơi lý tưởng

Những mối quan hệ liên quan đến phát triển du lịch sinh thái:
Du lịch sinh thái với phát triển cộng

đồng: Phát triển cộng đồng trong du lịch sinh thái là tạo cơ hội cho cộng đồng địa phương tham gia vào các dự án phát triển du lịch sinh thái, giao quyền hạn cho cộng đồng địa phương để họ kiểm soát và quản lý các tài nguyên tự nhiên và nhân văn có giá trị để đáp ứng nhu cầu về kinh tế, văn hoá, xã hội và sử dụng tài nguyên bền vững.
Du lịch sinh thái với bảo vệ tài nguyên và môi trường: Du lịch sinh thái và môi trường có mối liên quan rất gần gũi. Du lịch sinh thái chỉ có thể tồn tại và phát triển mạnh nếu chúng ta đảm bảo duy trì được môi trường hấp dẫn và các nguồn tài nguyên tự nhiên đặc sắc.
Du lịch sinh thái với phát triển bền vững: Phát triển bền vững nói chung và phát triển du lịch nói riêng cần phải tính đến 3 yếu tố: mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên tự nhiên, môi trường và lợi ích kinh tế; thời gian phát triển lâu dài; đáp ứng được nhu cầu hiện tại, song không làm ảnh hưởng đến nhu cầu của những thế hệ tiếp theo.
2. Tiềm năng du lịch sinh thái ở Sông Hinh:
Phú Yên có 2 khu được xếp vào danh mục các khu bảo tồn thiên nhiên là khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai và khu rừng cấm Bắc Đèo Cả, đây được xem là hệ sinh thái rừng đặt trưng của Phú Yên. Ngoài ra còn có các hệ sinh thái cát biển, đầm phá ven biển: đầm Ô Loan, đầm Cù Mông, Vịnh Xuân Đài; hệ sinh thái sông, suối, hồ: Sông Ba, Sông Hinh, Sông Kỳ Lộ...; các nguồn nước khoáng nóng: Phú Sen, Triêm Đức, Trà Ô, Lạc Sanh…. Trải qua quá trình lịch sử, cộng đồng các dân tộc ở Phú Yên đã tạo nên nhiều di tích lịch sử - văn hoá có giá trị, các lễ hội truyền thống, các loại nhạc cụ độc đáo, các làn điệu dân ca, các điệu dân vũ rất đặc sắc. Đó là những tiềm năng to lớn, là cơ sở cho phát triển du lịch sinh thái biển, rằng gắn với văn hoá bản địa.
Đặc biệt, huyện Sông hinh được đánh giá là có tiềm năng để phát triển du lịch sinh thái gắn với văn hóa bản địa như: các lòng hồ thủy điện, các thác suối, rừng tự nhiên, bản làng dân tộc gắn với di sản văn hóa phi vật thể khá phong phú và đa dạng …

   3. Một số vấn đề cần quan tâm trong phát triển du lịch sinh thái:
Thứ nhất chú trọng công tác quy hoạch và duyệt thiết kế :
- Khi quy hoạch xây dựng một khu du lịch sinh thái trước hết phải xác định mục tiêu đó là: Phát triển bền vững về du lịch và kinh tế; hạn chế được tác động môi trường; tạo ra lợi ích cho cộng đồng địa phương; tạo ra lợi ích cho công tác bảo tồn;
- Các công trình được xây dựng phải đảm bảo ít ảnh hưởng nhất tới sự tồn tại và phát triển các hệ sinh thái tự nhiên, không được làm thay đổi thiên nhiên xung quanh.
- Nhà đầu tư phải cam kết tuân thủ các nguyên tắc bảo tồn và phát triển cộng đồng, trong đó phải thực hiện công tác đánh giá môi trường chiến lượt (ĐMC) và đánh giá tác động môi trường (TĐM) theo đúng quy định.
Thứ hai: Trong quá trình triển khai mặt bằng và thiết kế công trình cho các dự án du lịch sinh thái:
- Tránh chặt, cắt các cây to và giảm thiểu sự ảnh hưởng đến các đặc điểm tự nhiên khác.
- Cần phải có kiểm soát xói mòn đối với tất cả các công trình xây dựng và đường mòn; Phải thoát nước ra khỏi các lối đường mòn và đường đi; Không nên phá bỏ mà phải duy trì thảm thực vật để gạn lọc, giảm thiểu cặn lắng;
- Các công trình xây dựng phải tương đối cách xa; Hạn chế dùng phương tiện gắn máy và các phương tiện đi lại gây ô nhiễm; Các vấn đề cụ thể về công trình phải phản ảnh mối quan tâm về môi trường trên phương tiện sử dụng gỗ và các vật liệu xây dựng khác; Công trình phải được bố trí tránh xa những khu vực có khả năng xảy ra sạt lở, hoặc trực tiếp ngăn cản các dòng chảy tự nhiên...
- Thiết lập các biển báo ở đầu đường mòn để đề cao ý thức về môi trường thiên nhiên và xác định rõ ràng nội quy hành vi;
Thứ ba: Khi xây dựng cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỷ thuật khu du lịch sinh thái:
- Tận dụng kỹ thuật xây dựng, vật liệu phù hợp với môi trường; Hình dáng của công trình phải hài hoà với cảnh quan thiên nhiên; cần ưu tiên chú ý đến sự duy trì hệ sinh thái hơn là việc phô trương mỹ thuật thiết kế;
- Các công trình dịch vụ du lịch nên ưu tiên sử dụng các vật liệu của địa phương: đá, gỗ, tre, gạch…, tránh sử dụng các vật liệu có màu sắc tương phản với tự nhiên.
- Cần tiến hành nghiên cứu và dự báo về lượng khách và công suất sử dụng trước khi tiến hành xây dựng các cơ sở lưu trú để đảm bảo hiệu quả kinh doanh đồng thời tránh quá tải ảnh hưởng đến các khu vực tự nhiên khác.
- Khuyến khích sử dụng các công nghệ sinh thái trong thiết kế các công trình dịch vụ du lịch; Cơ sở lưu trú cần được trang bị đầy đủ, sạch sẽ và thuận tiện;
- Hệ thống đường giao thông phải được thiết kế sao cho khách du lịch có khả năng tiếp cận gần nhất để quan sát các hệ sinh thái động thực vật.
Thứ tư: Khi bắt đầu tổ chức kinh doanh du lịch sinh thái:
- Cung cấp cho khách các tài liệu tham khảo tại chỗ cho việc nghiên cứu môi trường;
- Thiết lập các biển báo, nội quy, chỉ dẫn ở đầu đường mòn để đề cao ý thức về môi trường thiên nhiên (có Trung tâm giáo dục cho du khách và cung cấp các thông tin cần thiết về hoạt động du lịch và môi trường tại khu vực);
- Phải giám sát cẩn thận các hoạt động tham quan, du lịch ở khu vực du lịch sinh thái. Giáo dục và trang bị các kiến thức phù hợp cho các hướng dẫn viên du lịch và các nhân viên khác.   
Thứ năm: Yếu tố con người làm du lịch sinh thái: 
- Phát triển du lịch sinh thái đòi hỏi đội ngũ cán bộ làm việc trong ngành du lịch phải có một trình độ nghiệp vụ cao, phải có khả năng giải thích và thuyết phục các du khách bảo vệ những tài nguyên tự nhiên và nhân văn của khu vực.
- Bên cạnh những kiến thức cơ bản còn phải nắm được các thông tin đầy đủ và chính xác về đặc điểm đa dạng sinh học, về các giá trị văn hoá nhân văn truyền thống của các khu vực ưu tiên phát triển du lịch sinh thái, bên cạnh đó họ cũng phải là những người được đào tạo căn bản và có năng khiếu trong việc giáo dục ý thức cộng đồng và cho du khách về môi trường và bảo tồn.
- Đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực du lịch sinh thái phải có ý thức và trách nhiệm nghề nghiệp cao. Nâng cao vai trò hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch vì họ có ảnh hưởng trực tiếp đến sự thành công hay thất bại của hoạt động du lịch sinh thái.
“Sông Hinh là huyện miền núi của tỉnh, có những điều kiện thuận lợi về tự nhiên, tiềm năng đất đai, tài nguyên nước dồi dào, giao thông đi lại thuận tiện, là cửa ngõ phía Tây Nam của tỉnh, có khả năng phát triển chăn nuôi đại gia súc theo mô hình trang trại, trồng cây công nghiệp, trồng rừng kinh tế và phát triển du lịch sinh thái…” (Trích phát biểu của Đ/c Vũ Văn Phúc, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Phú Yên tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Sông Hinh lần thứ VII, nhiệm kỳ 2010-2015).

Với chủ trương, chính sách đã đề ra, Sông Hinh sẽ phát huy lợi thế của mình để tự mình lựa chọn, quyết định hướng phát triển du lịch nhanh và bền vững với nét riêng, vừa mang tính truyền thống và hiện đại và khai thác loại hình du lịch sinh thái là một trong hướng phát triển du lịch bền vững./.

Chủ Nhật, 21 tháng 10, 2012

Thị trấn Hai Riêng, huyện Sông Hinh, tỉnh Phú Yên

Một góc phố núi

Thứ Sáu, 12 tháng 10, 2012

http://congan.com.vn/?mod=detnews&catid=702&p=&id=481263
Phú Yên:
  Đột nhập sào huyệt vàng tặc
  Thứ sáu, 12/10/2012 09:04  
 
Ma lực từ cơn sốt vàng ngày một leo thang khiến nhiều kẻ bất chấp “lưỡi hái tử thần” có thể bổ xuống bất cứ lúc nào, lao vào như con thiêu thân để đào, hút, cuốc, xới... những mong tìm được “lộc” trời. Vàng tặc ngày càng hoành hành làm cho núi rừng, sông suối tan hoang, môi trường bị hủy hoại nghiêm trọng...
BĂM NÁT HÒN CỒ

Qua UBND xã Ea Trol hơn cây số, chúng tôi đã nghe tiếng máy từ các điểm khai thác vàng ở suối Trol Nen và chân núi Hòn Cồ phát ra ầm ầm. Trên đoạn dài hơn cây số, vàng tặc “chặt” con suối thành nhiều khúc để cày xới, đào, hút; đất đá, cát sỏi chất thành đống, nước suối đục ngầu, đen sì, bốc mùi khó chịu. Băng qua những hốc đá lổm nhổm bên hông suối, chúng tôi đến lãnh địa vàng tặc khi trước mặt chúng tôi là “đại bản doanh” với chiếc lán nhỏ được che bằng tấm bạt sơ sài nằm ẩn mình bên lũy tre.

Thấy người lạ, đám phu vàng nhìn chúng tôi bằng ánh mắt dè chừng. Năm người đàn ông tiếp tục chuyển máy, người còn lại tên là Ma Đam trạc 40 tuổi hất hàm hỏi: “Đi đâu?”. “Tụi em vào xin làm vàng”, chúng tôi trả lời. Anh ta đảo mắt nhìn chúng tôi đáp gọn lỏn: “Đủ người rồi. Qua chỗ thằng Quân mà làm”. Có lẽ đang thiếu người nên khi chúng tôi đến nơi, Quân, quê Thái Bình, nhanh chóng gật đầu. Tại khu vực khai thác, Quân đặt hai chiếc máy đào đãi vàng. Do không có người, hai chiếc còn lại ngừng hoạt động. Trên diện tích hơn 1 hécta, Quân cho đám phu vàng mở cả chục miệng hố sâu hoắm rồi dùng vòi rồng khoét sâu vào lòng đất. Vòi phun đến đâu, đất đá, cây cối đổ ào ào đến đó. Trong vòng hơn ba tiếng đồng hồ, đám phu vàng đã “liếm” sạch cả trăm khối đất đá.



Núi đồi tan hoang vì vàng tặc
Buổi chiều, chúng tôi tiếp tục ngược suối Trol Nen tìm đến các bãi vàng khác. Gần đập thủy lợi cả chục toán vàng tặc lố nhố đầm mình dưới những hố sâu cùng phương tiện máy móc thi nhau đào, hút, khoét chân Hòn Cồ. Trên bờ, nhiều lán, trại được dựng lên phục vụ cho việc khai thác trường kỳ. Tiếng máy hút khoáng sản gầm rú hết công suất khoét sâu vào lòng núi làm hàng ngàn khối đất đá ào ào đổ sụp. Cuộc tàn phá thiên nhiên thật khốc liệt. Trên diện tích khoảng 30 hécta, không một mét đất nào là chưa bị băm nát. Khung cảnh tan hoang hiện ra như một đại công trường tơi tả. Bùn đất ứa trào ra sông, suối hình thành những cồn cát chắn dọc, ngang dòng nước. Đất đai bạc màu khiến cây cối nơi chúng tràn qua héo rũ...

Sau nhiều lượt băng qua những hố bom, ụ đất, vào các lán trại phía trong Hòn Cồ gãi đầu gãi tai “nói khó” để xin việc nhưng đều bị từ chối, cuối cùng chúng tôi được một bưởng vàng trạc 40 tuổi, mặt rỗ, cụt một tay thương tình chỉ đường đến chỗ “thằng em đang cần người”. Theo mô tả, chúng tôi đoán có lẽ đó là lán vàng của Quân. Linh tính mách bảo có chuyện chẳng lành, chúng tôi tìm cách chuồn gấp. Vừa lên xe, chúng tôi gặp hai tên từ chỗ bưởng Quân bước tới hỏi: “Mấy “sếp” đi đâu đây? Hôm trước “làm luật” rồi, nay lại vào nữa hả?”.



Máng lọc vàng thải ra nhiều chất độc hại
Sau nhiều ngày lân la xin việc, chúng tôi được Hà - một bưởng vàng có tiếng ở thị trấn Sông Hinh - nhận vào làm. Trong vai phu vàng, sáng 15-9-2012 chúng tôi theo Hà và người đàn ông trạc 55 tuổi tên Lượng cắt rừng leo núi năm tầng vào Hòn Cồ. Con đường ngoằn ngoèo đầy “ổ voi” chạy vắt vẻo qua triền đồi với nhiều khúc cua cùi chỏ, đầy sình lầy, nhão nhoẹt ngập tới 2/3 bánh xe gắn máy, trơn như da lươn. Một bên là vách núi cheo leo, bên kia là vực sâu thăm thẳm, chúng tôi ghì tay lái “bò” trên sống lưng con đường đầy đá hộc trong tâm trạng căng thẳng. Hai bên đường mòn vào Hòn Cồ, nhiều mảng đồi bị “cạo” trọc, trên đó lưa thưa những rẫy mì, keo tràm, xà cừ... còi cọc, đất đá bị đào bới tan hoang, cây cối đốn hạ ngổn ngang. Sau gần hai tiếng đồng hồ vật lộn với con dốc, lúc đi ngang qua Trạm kiểm lâm Hòn Cồ, Hà và ông Lượng ghé vào biếu ít rượu, họ gặp nhau cười nói rất vui vẻ. Từ trạm kiểm lâm, chúng tôi tiếp tục lên xe chạy hơn một cây số là đến lán của Hà. Thấy “lính” mới, một bưởng khác hất hàm ra hiệu cho phu vàng đến khám người. Không phát hiện gì, anh ta gật đầu đồng ý. Cũng may lúc gần đến trại, chúng tôi đã giấu máy móc vào một nơi kín đáo, nếu bị phát hiện thì xem như toi.

Thoát qua cửa ải chào lán, chúng tôi được Hà dẫn đi quan sát một vòng. Tại quả đồi phía sau, vàng “tặc” đào nhiều đường giao thông hào rộng khoảng hai mét, sâu hơn một mét chạy đến hàng chục miệng hố sâu hoắm. Gần chục hécta rừng trọc lóc, cây cối bị chặt không thương tiếc, đốt thành tro. Giữa sườn đồi, chúng mở một địa đạo sâu hơn chục mét, trên “thả” một cái giếng khoảng 30 mét thọc sâu vào lòng núi lấy sái vàng. Đầu miệng địa đạo, chúng đặt cối xay, đầu bơm, ống hút. Một phu vàng tên Chín “cô đơn” trạc 45 tuổi và người đàn ông khoảng 65 tuổi tên Chính “già” đang thực hiện việc xay, lọc vàng. Chúng thải ra rừng hàng đống chất thải làm dòng suối đục ngầu.



Đỏ mắt tìm vàng
Ăn vội bữa trưa, chúng tôi vác xà beng, cuốc, xẻng, búa, đục... theo đám phu vàng san đồi, khoét núi. Bất kể trời nắng hay mưa, phu vàng đều phải cày ải. Kẻ gồng mình quai búa đục hầm, phá đá; người oằn lưng đẩy đất, ai nấy đều hối hả làm việc. Ai chểnh mảng sẽ điếc tai vì bị Thi “ngót”, một bưởng vàng két tiếng độc đoán chửi. Người nào có ý định bỏ trốn liền bị hắn “xử” theo “luật vàng”. Sau mỗi buổi làm việc, chân tay chúng tôi muốn rã rời. Mặc dù sử dụng hết nửa chai dầu xoa bóp nhưng mình mẩy vẫn ê ẩm, nhiều hôm bỏ cơm vì nuốt không nổi. Công việc nặng nhọc, ăn uống kham khổ lại ở chốn rừng thiêng nước độc, đám phu vàng ai nấy gầy nhom, để lộ từng mảng xương sườn, râu ria xồm xoàm. Sau bữa cơm tối, họ hết túm tụm nói tục, đánh bài, làm cuốc tẩm quất lại chụm đầu bên điện thoại di động xem phim sex. Đêm, rừng Hòn Cồ im lặng đến rùng mình. Mặc dù được bố trí nằm cạnh nhau nhưng hơn một tuần sống với đám phu vàng, không đêm nào chúng tôi ngon giấc. Hễ người này ngủ thì người kia phải thức để canh chừng, lỡ tên nào táy máy chân tay phát hiện ra máy móc, chúng không “mần thịt” chúng tôi mới là chuyện lạ.

Tại Hòn Cồ, ngoài bưởng Hà còn có nhiều ông trùm vàng tặc như: Ý Anh, Quang Vy, Chung Còi... ngày đêm ra sức “oanh tạc”. Vàng tặc xuống nước thì giết “hà bá”, đầu độc sông suối; lên rừng thì bạt núi, băm cây, uy hiếp thú rừng. Được biết để lọc được vàng, chúng sử dụng rất nhiều hóa chất độc hại - đây là thủ phạm nguy hiểm hủy hoại môi trường.

ĐẦU ĐỘC MÔI TRƯỜNG

Cách trung tâm huyện Sông Hinh hơn chục cây số, Hòn Cồ được người dân ví là “hòn vàng”. Tuy nhiên, quanh năm, nơi này phải oằn mình chịu sự cày xới ác liệt của vàng tặc. Con đường dẫn vào Hòn Cồ nằm sát bên UBND xã Ea Trol, mỗi ngày có hàng chục phu vàng lũ lượt đi qua. Không còn vàng mười trong đất, dưới lòng sông, Hòn Cồ chỉ còn là hòn đất bởi các hoạt động xẻ núi, sục sông, băm suối “săn” vàng.
Sau khi quan sát màu đất đá, mạch nước ngầm, thấy khả quan, bưởng cho triển khai máy móc, đào giao thông hào và thả khoảng 15 cái giếng để thăm dò, mỗi giếng cách nhau từ năm đến bảy mét. Giếng nào có “nẹp” vàng thì khoan sâu vào lòng đất. Từ sườn đồi, bưởng cho đào thêm một số địa đạo nối với giếng theo dạng hai cạnh góc vuông của tam giác. Vét sạch vàng “nẹp” theo phương thẳng đứng, phu vàng sẽ “đánh” địa đạo sang ngang tỏa đi các ngả tạo thành hệ thống địa đạo chạy ngầm dưới lòng đất như xương cá. Nếu gặp đất đá cứng, chúng cho nổ mìn thông hầm. Đây là giai đoạn rất nguy hiểm, bởi không chỉ thiếu ôxy mà còn có thể sập hầm mất mạng bất cứ lúc nào. Cách đây không lâu đã có hai phu vàng tử vong khi “đánh” địa ở Hòn Cồ. Vì không muốn cơ quan chức năng biết chuyện, những người trong nhóm đã âm thầm đưa tử thi về quê an táng.



Gồng mình đào đất khoét núi tìm sái vàng
Sau khi hình thành các địa đạo, phu sẽ bắt theo “mạch” vàng để hốt sái đưa lên cối xay, đãi. Sau cối, vàng tặc gắn hai chiếc máng, mỗi chiếc dài gần hai mét, rộng hơn một mét. Máng trước có đặt một tấm kim loại bằng niken, trên bề mặt phết một lớp thủy ngân để thu nhận vàng cám, các tạp chất khác theo nguồn nước trôi ra ngoài. Kế đó là chiếc máng ngắn hơn, trên mặt trải một tấm thảm để tận thu những gì máng đầu bỏ sót. Phía sau những chiếc máng này, chúng đào một hố sâu hoặc lấy đất đắp thành cái ao lớn chứa phụ phẩm. Mỗi khi xay, chúng hòa một ít bột giặt, hóa chất vào sái vàng, sau đó lấy tấm niken ra, dùng miếng xốp cạo nhẹ lớp thủy ngân cho vào bát đổ vào túi vải vắt sạch để lấy vàng. Lọc xong lần thứ nhất, chúng sẽ hốt phụ phẩm cho vào bể ngâm, dưới đáy gắn chiếc vòi to bằng ngón tay cái được nối với một bể khác nhỏ hơn. Chúng tiếp tục cho khoảng bốn đến năm ký vôi, cyanua và một số hóa chất vào bể xử lý, khoảng bốn ngày sau dùng cọng kẽm to bằng nửa chiếc đũa thọc vào vòi cho nước chảy ra để lọc vàng, quy trình này giống với khi cất rượu. “Do sử dụng hỗn hợp thủy ngân, cyanua, vôi, bột giặt và hóa chất khác nên nước trong bể này rất độc, khoảng ba, bốn ngày cọng kẽm sẽ bị hòa tan. Chất thải xả ra môi trường thì tôm, cá chết phơi bụng, cây cối héo queo”, Hòa - một bưởng vàng có thâm niên 15 năm trong nghề tặc lưỡi.
CƠ QUAN CHỨC NĂNG THỜ Ơ?

Nghỉ làm phu vàng ở bưởng Hà, sáng 18-9-2012, chúng tôi tiếp tục trèo đèo quay vào Hòn Cồ tìm hiểu thêm hoạt động của vàng tặc. Lúc qua trạm kiểm lâm, xe bất ngờ hỏng máy, dắt vào trạm mượn đồ nghề sửa, chúng tôi bị một người đàn ông trạc 55  tuổi to cao, bụng bự đứng chống nạnh hỏi như quát: “Tụi bây ở đâu vào đây? Không thấy đường bị chặn hả?”. Chúng tôi nhìn ra thấy cái gác chắn có tấm biển ghi dòng chữ nguệch ngoạc “Không phận sự, cấm vào” nằm xếp xó bên lề. Vả lại, lần trước chúng tôi theo bưởng Hà và ông Lượng chạy qua trạm này có ai hỏi gì đâu! “Tụi cháu đi xin làm phu vàng” - chúng tôi nhỏ nhẹ trả lời. Nhưng người đàn ông này lại quắc mắt: “Vàng bạc gì? Có ai làm đâu mà xin!”. “Tụi cháu nghe bà con nói có ông Hà, vợ chồng ông Ý Anh, ông Quang... đang làm trong này” - chúng tôi nói. “Tào lao, ai cho đào mà làm? Không có vàng bạc gì hết, ra đi” - ông này xua tay như đuổi tà.

Khoảng 15 phút sau, một người đàn ông khác trạc 50 tuổi, thấp đậm, mặc áo quần kiểm lâm, đeo kiếng đen chạy xe vào trạm. “Mấy anh này đi đâu mà vào đây?” - người này hỏi. Sau khi nghe trình bày, ông ta nhìn chúng tôi hồi lâu mới vào lấy đồ nghề sửa xe cho mượn. Giống như người đàn ông lúc nãy, người này cũng khẳng định chắc như đinh đóng cột: “Ở đây cấm khai thác vàng nên không có ai đào cả, sửa xong xe thì ra đi”.

Ra khỏi trạm vài trăm mét, gặp ông Ma Bôn, 60tuổi người Ê Đê, chúng tôi hỏi: “Trong này có ai đào vàng không chú?”. “Nhiều lắm! Phải có cả chục chỗ”, Ma Bôn nói. “Sao chúng cháu nghe mấy ông bên trạm kiểm lâm nói không có?”. Ma Bôn nhíu mày, giọng chua chát: “Mỗi ngày có hàng chục chiếc xe máy của bọn đào vàng chạy qua cái trạm này chứ có ai làm lén lút đâu mà các ông ấy giấu? Không tin, mấy chú cứ vào xem”. Dứt lời, ông chỉ tay về phía con suối đang sạt lở, nước chảy đục ngầu, lổm nhổm từng đụn đất đá. “Tao sống ở đây hơn hai chục năm nay nhưng chưa khi nào thấy nạn đào vàng hoành hành như lúc này. Ngày trước, sông suối ở đây nước trong vắt, bà con sử dụng để nấu ăn, tắm giặt, cá tôm thì nhiều vô kể, có con vài chục ký. Từ lúc vàng tặc vào làm, chúng bỏ cái chất gì xuống mà tôm, cá chết phơi trắng bụng. Nguồn nước thì bị ô nhiễm, ngứa ngáy không ai dám uống, cây trong vườn nhà tao cũng héo queo, chết trụi. Mỗi khi có mưa xuống là đất đá sạt lở đổ ầm ầm, cây cối cũng bị vàng tặc chặt bỏ không thương tiếc khiến con chim, con hoẵng không còn chỗ trú. Nhiều lần tao báo với kiểm lâm và chính quyền địa phương nhưng chẳng hiểu sao họ vẫn để vàng tặc làm?”, ông bức xúc.
Giải thích việc vì sao ngày càng có nhiều vàng tặc hoành hành, Hùng - một bưởng vàng có thâm niên 30 năm trong nghề - thổ lộ: “Một thằng ăn trộm không cẩn thận là bị tóm như chơi, nói gì đến hàng trăm con người, máy móc lỉnh kỉnh như vậy mà cơ quan chức năng không biết, chẳng qua là họ lơ thôi! Nhưng muốn vậy thì mình phải “biết điều”. Mỗi khi có đoàn kiểm tra về, họ “xi nhan” trước để mình thu dọn máy móc, trừ trường hợp bị cơ quan chức năng đột kích bất ngờ. Ai không “làm luật”, tôi đố đào vàng được đấy. Nhưng cái nghiệp vàng tặc này bạc bẽo lắm. Nói đâu xa, ở mấy xã quanh đây thôi, không ít người có tiền rồi sinh tật, không đàn đúm, trai gái, cờ bạc thì cũng ốm đau bệnh tật, con cái hút chích, vợ chồng ly tán. Đó là chưa kể những lúc đào không có vàng, bưởng phải vay tiền “nóng” nuôi quân, nợ nần chồng chất”.

Theo chúng tôi để tình trạng khai thác vàng trái phép không tái diễn, ngoài ý thức người dân, cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra truy quét và cương quyết hơn nữa trong quá trình xử lý vi phạm, làm rõ trách nhiệm các cán bộ địa phương để vàng tặc lộng hành suốt thời gian dài mà không có biện pháp ngăn chặn...
 
  HẢI VĂN - ĐOÀN TUẤN(Báo Công An)

Thứ Ba, 9 tháng 10, 2012

SÔNG HINH: MỘT VÙNG ĐẤT TIỀM NĂNG


MỘT VÙNG ĐẤT TIỀM NĂNG

Sông Hinh là huyện miền núi nằm ở vị trí tiếp giáp gữa hai vùng cao nguyên và đồng bằng và tiếp giáp với các tỉnh Khánh hòa, Gia lai, Đắc lắc.  Sông hinh được thiên nhiên ưu đãi về khí hậu, thổ nhưỡng, đất đai phì nhiêu và những dòng sông suối không bao giờ cạn nước. Từ ngày mới thành lập nơi đây là vùng đất hoang vu, lau, tranh um tùm và những cánh rừng bạt ngàn và những cơn sốt rét rừng luôn là nỗi lo cả mọi người. Nhưng giờ đây nó đã khoác lên mình một diện mạo mới và trở thành một huyện lỵ vùng cao đầy hứa hẹn và tiềm năng nằm ở phía tây nam của tỉnh Phú yên.
DIỆN MẠO ĐỔI THAY:

Hai mươi năm năm trước huyện được tách ra từ huyện Tây sơn cũ ( nay là huyện Sơn hòa) và mang cái tên Sông hinh rất thân thương, gần gũi, gắn bó với bà con đồng bào nơi đây. Khi mới thành lập trong điều kiện cơ sở vật chất hầu như chưa có gì, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, các hủ tục lạc hậu trong dân còn khá phổ biển, các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội cũng ở trong tình trạng kém phát triển. Sản xuất nông nghiệp chỉ độc canh cây lúa rẫy và hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên. Công tác giáo dục - đào tạo đối mặt với những khó khăn, toàn huyện chỉ có hơn 3000 học sinh từ Mẫu giáo đến cấp II, với 119 giáo viên. Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân còn nhiều hạn chế, chỉ có 3/6 xã có trạm Y tế và 1 Bác sĩ.
Toàn huyện chỉ có 16 chi bộ, trong đó có 6 chi bộ xã, 10 chi bộ liên cơ quan, với 146 đảng viên. Đa số cán bộ điều động đến công tác tại Sông Hinh là cán bộ thuộc các cơ quan của Tỉnh Phú Khánh( cũ) và của huyện Tây Sơn, Tuy Hòa và Thị xã Tuy Hòa. Nhiều cơ quan chưa có đảng viên, những cơ quan có đảng viên cũng chỉ 1-2 người nên phải sinh hoạt theo chi bộ ghép, do vậy rất khó khăn trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển KT-XH trên địa bàn huyện.
Sau 25 năm xây dựng và phát triển,  Đảng bộ, Chính quyền và đồng bào các dân tộc huyện nhà đã không ngừng phát huy cao độ truyền thống cách mạng, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, vượt qua muôn vàn khó khăn, đã từng bước thóat khỏi tình trạng lạc hậu và kém phát triển, vươn lên, lập nên những thành tích thật đáng tự hào đưa tốc độ tăng trưởng nền kinh tế Sông Hinh năm sau cao hơn năm trước,  tốc độ tăng bình quân một số ngành sản xuất chính đạt là 28 %, trong đó: tổng giá trị các ngành sản xuất chính đạt 633 tỉ đồng, giá trị sản xuất Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp đạt 356 Tỷ đồng. Là một địa phương có nhiều lợi thế để phát triển nông nghiệp, Sông hinh đã biết phát huy thế mạnh về chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi đại gia súc và sản xuất lúa nước, đã từng bước phá thế độc canh cây lúa rẫy, chuyển dịch nhanh cơ cấu cây trồng, vật nuôi hợp lý, đưa các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp đạt được hiệu quả đáng khích lệ, nâng tổng số lượng đàn bò từ 17 nghìn con năm 1985, đến nay lên đến gần 30 nghìn con, với tỷ lệ bò lai chiếm trên 25 % so với tổng đàn. Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 18 nghìn ha tăng gấp đôi so với năm 1985. Trong đó diện tích lúa nước hai vụ hơn 1.100 ha, với năng suất ổn định 50 tạ/Ha/vụ cao hơn năng suất lúa rẫy đến 4 lần đã làm thay đổi tập quán canh tác, góp phần quan trọng đưa sản lượng lương thực hàng năm đạt 18 nghìn tấn, bảo đảm an ninh lương thực tại chỗ cho đồng bào. Trong những năm gần đây với lợi thế về đất đai màu mỡ, nhiều vùng cây công nghiệp đã từng bước được qui hoạch và phát triển với các loại cây trồng như: Cao su, cà phê và cây ngắn ngày như: sắn, mía, mè, đậu đỏ, bắp...Nhất là những năm gần đây Sông hinh đã hình thành nhiều mô hình kinh tế trang trại nông -lâm kết hợp mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mạng lưới điện Quốc gia đã phủ kín 100% thôn, buôn. Hệ thống thông tin liên lạc phát triển nhanh, mạng lưới điện thoại cố định đã phủ ở 11 xã, thị trấn; tỷ lệ sử dụng điện thoại cố định ngày càng cao đáp ứng tốt nhu cầu của nhân dân. Chương trình Quốc gia đầu tư xây dựng cụm Trung tâm xã, chương trình 134, 135 ở các xã đặc biệt khó khăn không chỉ làm cho bộ mặt nông thôn miền núi thay đổi rõ nét mà còn tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến tâm tư, tình cảm và sự đoàn kết của đồng bào dân tộc, củng cố thêm niềm tin giữa Nhân dân với Đảng.
Sự nghiệp giáo dục miền núi được quan tâm đúng mức. Thường xuyên quan tâm nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo dục đạo đức và thể chất cho học sinh, đến nay có 10/11 xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về  PCGD THCS. Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được thực hiện ngày càng tốt hơn, 100% xã có trạm Y tế, 8/11 xã, Thị trấn có Bác sĩ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc chăm sóc sức khoẻ bước đầu cho nhân dân ngay tại cơ sở.
Song song với phát triển kinh tế, công tác xây dựng đời sống văn hoá mới cũng được Đảng bộ và chính quyền hết sức coi trọng, đến nay đã có 98% địa bàn dân cư được phủ sóng phát thanh truyền hình. Môi trường xã hội và môi trường văn hóa phát triển lành mạnh, đúng hướng.   Các di sản văn hóa của đồng bào Dân tộc như : Trường ca, Truyện cổ, Dân ca, Cồng chiêng được khai thác và phát huy hiệu quả, phục vụ tốt công cuộc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa.
góp phần làm cho đời sống đồng bào ngày càng được cải thiện, bộ mặt nông thôn miền núi không ngừng được khởi sắc, tạo đà, tạo thế và lực cho sự phát triển của huyện trong những năm tiếp theo.     
 TIỀM NĂNG – LỢI THẾ

Được thiên nhiên ưu đãi nên những năm gần đây vùng đất phía tây Bắc của huyên đã được tỉnh phs yên thực hiện đề án thử nghiệm thành công một loại cây công nghiệp có giá trị kinh tế cao đó là dự án trồng cao su tiểu điền và giờ đây nhân dân đang phát triển thành mô hình trồng cao su đại điền với diện tích qui hoạch khoảng 1.800 ha. Hiện nay Viện cao su việt nam cũng đang xúc tiến đầ tư xây dựng trạm thực nghiệm vườn cao su chất lượng cao trên diện tích 50 ha với số vốn đầu tư trên 25 tỷ đồng. Từ đây sẽ mở ra một tiềm năng mới cho vùng đất phỉa Tây bắc này.
 Cây cà phê và ca cao cũng đang là lợi thế cho sự phát triển cây công nghiệp với qui mô tiểu điền và đại điền của Sông hinh. Ngoài diện tích 500 ha cà phê của Công ty cà phê Ea bá, xã Ea Bar có 300 ha, EaLy 80 ha, xã Sông hinh và Ea Trol có trên 100 ha hiện nay hầu hết các diện tích cà phê này đã cho th hoạch nhiều năm với năng suất bình quân 12-13 tấn/ha, lãi bình quân từ 15-20 triệu đồng /ha.
Sông hinh là thế “Rồng thăng” nằm giữa hai con sông lớn đó là dòng Sông hinh và dòng sông Ba nên Sông hinh đang là trung tâm của tam giác thủy điện lớn đó là thủy điện Vĩnh sơn - Sông hinh, thủy điện Sông Ba hạ đã đi vào hoạt động, thủy điện Krông Hnăng sắp đưa vào hoạt động sẽ mở ra cho Sông hinh những cảnh quan nhân tạo rất nên thơ giữa núi rừng thiên nhiên hùng vĩ.
Trong những năm gần đây có trên 500 mô hình kinh tế trang trại nông lâm kết hợp vừa và nhỏ đang phát triển đúng hướng và khá mạnh trên địa bàn huyện; hầu hết các trang trại này hoạt động đều mang lại hiệu quả cao; có những trang trại phát triển thu lãi hàng năm trên trăm triệu đồng. Bên cạnh đó Sông hinh còn là một trong những địa phương đứng đầu về phát triển đàn đại gia xúc của tỉnh Phú yên với đàn bò gần 30 ngàn con, bò lai chiếm khoảng 25% tổng đàn và hiện nay bằng việc áp dụng đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào cuộc sống sông hinh đang thực hiện nhiều mô hình chăn nuôi bò thâm canh, vỗ béo bò; đồng thời đẩy nhanh việc lai tạo đàn bò để tạo ra giống lai hiệu quả thương phẩm cao, giúp người nông dân tự lực vươn lên làm giàu.
Nằm trên tuyến đường liên Tỉnh ĐT 645 đã nối Sông Hinh với Đắc Lắc, và trục dọc miền tây đường ĐT 649 đã nối liền từ huyện MaĐrắk ( tỉnh Đắc Lắc) đến về thị Trấn Hai riêng ( hyện Sông Hinh), qua thị tấn Củng Sơn ( huyện Sơn hòa), qua huyện Đồng xuân đi Vân canh - Bình định, hầu hết đã được nhựa hóa, bê tông hóa; bảo đảm hoạt động thông thông suốt nối các trung tâm hyện lỵ của các tỉnh Tây nguyên với đồng bằng tạo nên sự liên thông chiến lược về kinh kinh tế, an ninh, quốc phòng vững chắc. Đây còn là điều kiện tốt để nhân dân vận chuyển, trao đổi hàng hóa, các loại nông sản vốn là thế mạnh của Sông hinh cngf giao thương với các địa phương trong cả nước. Mạng lưới điện Quốc gia đã phủ kín 100% thôn, buôn. Hệ thống thông tin liên lạc phát triển nhanh, mạng lưới điện thoại cố định đã phủ ở 11 xã, thị trấn;  Chương trình Quốc gia đầu tư xây dựng cụm Trung tâm xã, chương trình 134, 135 ở các xã đặc biệt khó khăn không chỉ làm cho bộ mặt nông thôn miền núi thay đổi rõ nét mà còn tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến tâm tư, tình cảm và sự đoàn kết của đồng bào dân tộc, củng cố thêm niềm tin giữa Nhân dân với Đảng.
Lợi thế về địa hình núi cao có những con sông lớn bao quanh năm không bao giờ cạn, tạo cho vùng cao nguyên này một tiềm năng hơn hắn các huyện niền núi khác trong tỉnh. Đó là tiềm năng về xây dựng các công trình thủy điện; ngoài nhà máy thủy điện Vĩnh Sơn -  Sông hinh, nhà máy thủy điện Sông ba hạ đã đi vào hoạt động biến những cơn lũ, con thác nơi đây thành dòng điện quí giá hòa vào chung vào lưới điện quốc gia. Sắp tới đây Nhà máy thủy điện Krông Năng cũng sẽ sớm hoàn thành dưa vao sử dụng; tạo ra một tam giác thủy điện giữa núi rừng Sông hinh đại ngàn trùng điệp. Sự hình thành nên các công trình thủy điện vệ tinh xung quanh mình với ba hồ chứa nước nhân tạo dung tích lớn và tạo ra rất nhiều đảo lớn nhỏ trong lòng hồ cùng hệ thống sông, suối, cây rừng và các buôn làng bao bọc sung quanh sẽ tạo cho Sông hinh một tiềm năng lớn về du lịch sinh thái “rừng -  hồ” kết hợp đi cùng với nền văn hóa đặc sắc của các dân tộc tây nguyên. Rồi đây Sông hinh chắn chắn sẽ được nhiều người trên cả nước biết đến như là điểm đến hấp dẫn khách thăm quan du lịch gần xa.
Hai mươi năm năm xây dựng thời gian chưa phải là dài so với lịch sử phát triển của một vùng đất mới. Nhưng Đảng bộ, Chính quyền và nhân dân huyện Sông hinh đã tích lũy, đúc kết được rất nhiều bài học kinh nghiệm quí giá; đây sẽ là sự chuẩn bị tích cực, là cơ sở vững chắc để huyện nhà đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và hội nhập Quốc tế.